Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Bitcoin là gì?
Trước khi tìm hiểu đồng tiền ảo Bitcoin mà giá trị có lúc gần bằng 1 ounce vàng là gì, có lẽ cần nhớ lại bối cảnh tình hình kinh tế thế giới năm 2008, năm Bitcoin chuẩn bị ra đời. Năm 2008, khủng hoảng tài chính thế giới nổ ra ở Mỹ bắt nguồn từ lòng tham của giới ngân hàng cho vay bừa bãi lại đẻ ra các sản phẩm tài chính đầy rủi ro. Ngay sau đó chính phủ các nước, nhất là nước Mỹ đã đổ ra hàng trăm, hàng ngàn tỷ đô-la để cứu hệ thống tài chính mà thực chất là cứu các ngân hàng khỏi sụp đổ. Dù bằng phương tiện nào, đồng tiền in ra để cứu hệ thống ngân hàng cũng là đồng tiền đóng thuế của người dân.
Nhu cầu cho một đồng tiền ảo
Cộng đồng tin học, nhất là cộng đồng những người làm trong ngành mã hóa, thường là những người theo chủ thuyết tự do, họ phản đối bất kỳ hình thức kiểm soát nào của chính quyền. Bối cảnh khủng hoảng tài chính nói trên càng làm họ chống đối vai trò của chính phủ và một trong những ước mơ của họ là sáng chế ra một đồng tiền ảo, tránh được mọi sự kiểm soát của nhà nước, trở thành một phương tiện giao dịch trong cộng đồng với nhau, không chịu chia sẻ lệ phí cho nhà băng nào, không phải trừ phần trăm hoa hồng cho bên phát hành thẻ tín dụng nào.
Ngày 1-11-2008, một nhân vật trước đó chưa ai nghe tên là Satoshi Nakamoto đã đưa lên mạng cộng đồng mã hóa một bài nghiên cứu, miêu tả cách thức tổ chức, vận hành của một đồng tiền ảo như thế dưới cái tên Bitcoin.
Trước đó mọi nỗ lực tung ra đồng tiền ảo đều thất bại và một trong những lý do là tình trạng một đồng bị người chủ sử dụng nhiều lần. Tiền ảo là thông tin, chạy tự do trên Internet thì lấy gì để ngăn chận một người tiêu đi tiêu lại cùng một đồng anh ta có được. Cách duy nhất là mọi giao dịch phải thông qua một tổ chức trung gian có nhiệm vụ xác nhận giao dịch và ghi nhận đồng tiền đó đã tiêu vào việc đó. Nhưng như thế cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận một dạng ngân hàng trung ương kiểm soát mọi giao dịch và ý nghĩa của đồng tiền ảo xem như bị triệt tiêu.
Sáng kiến của Satoshi Nakamoto là thay vì một tổ chức thứ ba, anh đề nghị mọi giao dịch đều ghi vào một cuốn sổ cái, sổ này ai tham gia cũng giữ một bản chứ không giao cho tổ chức riêng lẻ nào. Cuốn sổ cái này gọi là “block chain” (nay dung lượng đã lên đến trên 11GB mà người nào tham gia mua bán Bitcoin đều phải tải về máy) sẽ được cập nhật 10 phút một lần. Cộng đồng những người làm mã hóa sẽ tự nguyện tham gia cập nhật các giao dịch bằng cách chạy một phần mềm chuyên dụng, đổi lại họ sẽ được thưởng bitcoin, nhờ thế đồng bitcoin sẽ sinh sôi nảy nở (quy trình này gọi là khai mỏ - mining).
Để đồng tiền không sinh ra quá nhanh, đã có những quy định được đặt ra. Ghi nhận các giao dịch vào sổ cái là chuyện đơn giản, để tương xứng với việc thưởng bitcoin cho người tham gia ghi lại các giao dịch, máy tính của họ phải đồng thời giải các bài toán phức tạp gắn với các giao dịch này, ai giải được và ghi nhận thành công sau mỗi 10 phút sẽ được thưởng 50 bitcoin. Càng nhiều người tham gia thì mức độ phức tạp của các bài toán sẽ tự động tăng lên. Ngoài ra, phần thưởng sẽ bị cắt còn một nửa cứ sau mỗi 210.000 lần thưởng, cho nên lúc đầu cứ 10 phút có 50 bitcoin được tạo ra nhưng từ cuối năm trước chỉ còn 25 bitcoin. Dự tính đến năm 2017 chỉ còn 12,5 bitcoin và cuối cùng đến năm 2140, đồng tiền ảo này sẽ đạt giới hạn đỉnh của nó, ở mức 21 triệu bitcoin, sau đó coi như không có thêm bitcoin nào nữa. Cho đến nay đã có 11 triệu bitcoin được lưu hành, trị giá trên 13 tỷ đô-la Mỹ!
Thiên thời địa lợi
Satoshi Nakamoto tự đẻ ra 50 bitcoin đầu tiên vào ngày 3-1-2009. Trong năm đầu tiên, hầu như không ai chú ý đến nó nhưng dần dần người ta nhận ra tầm quan trọng của nó. Bitcoin không phụ thuộc vào giới tài phiệt, cuốn sổ cái sẽ giúp loại trừ gian lận, việc tăng cung tiền đã được định trước chứ không như đồng tiền thật, chính phủ nào muốn in bao nhiêu đưa vào lưu thông cũng được, không ai một mình mà kiểm soát được nó, mọi giao dịch đều phải công khai nhưng lại dưới dạng thông tin mã hóa nên hầu như không tiết lộ danh tính của người sở hữu. Ngày 22-5-2010, Laszlo Hanyecz trở thành người đầu tiên dùng 10.000 bitcoin để mua hai chiếc bánh pizza trị giá 25 đô-la (nay tương đương với 12 triệu đô-la!).
Đến tháng 2-2011, khi đã có trên 5 triệu bitcoin được tạo ra, trị giá của nó lần đầu tiên lên bằng 1 đô-la Mỹ. Giá bitcoin từ đó dần dần tăng lên, đầu năm 2013 là 15 đô-la và đến tháng 11-2013 thì tăng vọt, đầu tháng chỉ mới chừng 200 đô-la/1 bitcoin thì đến cuối tháng đã lên đến 1.242 đô-la/ 1 bitcoin. Nay nó lại giảm còn một nửa.
Sự bùng nổ giá trị đồng bitcoin được cho là do nhiều yếu tố. Đầu tiên là do báo chí – các bài báo liên tục đưa tin về bitcoin làm mọi người tò mò, ai cũng muốn sở hữu thử vài đồng bitcoin cho biết. Thứ hai là giao dịch bitcoin giai đoạn đầu bùng nổ nhờ mạng lưới mua bán tân dược trái phép và ma túy qua mạng – mua bằng bitcoin thì yên tâm không ai biết, chẳng ai hay. Thứ ba là sự thừa nhận của một số giới chức có thẩm quyền như Bộ Tài chính Đức công nhận Bitcoin là một đơn vị kế toán (1 trong 3 chức năng của tiền tệ). Gần đây nhất là việc Thượng viện Mỹ nghe điều trần về nó và nhiều giới chức tài chính kể cả Chủ tịch Fed Ben Bernanke cho rằng nó có tiềm năng là đồng tiền ảo của tương lai.
Nhưng chính giới đầu cơ, kể cả dân Trung Quốc đang tìm cách chuyển tiền bí mật ra nước ngoài, mới là yếu tố đẩy giá Bitcoin lên nhanh như hiện nay. Đầu cơ Bitcoin đến từ hai phía. Thứ nhất là mua Bitcoin để trông chờ nó lên giá và bán lại để hưởng lợi. Hiện nay dân Trung Quốc chiếm 62% khối lượng giao dịch bitcoin toàn cầu (chính quyền Trung Quốc một mặt cho rằng khó lòng thừa nhận bitcoin như một loại công cụ tài chính hợp pháp trong tương lai gần, mặt khác lại cho phép người dân mua bán bitcoin thoải mái). Có thể thoạt tiên cộng đồng tin học khi sinh ra Bitcoin không nghĩ đến ngày chính giới tài phiệt lại nhảy vào sử dụng Bitcoin để làm công cụ kiếm ăn. Anh em nhà Winklevoss, nổi tiếng nhờ vụ tranh chấp với Mark  Zuckerberg về chuyện ai đẻ ra ý tưởng làm Facebook, nay là dân đầu cơ bitcoin chuyên nghiệp. Họ cho rằng giá bitcoin còn tăng cả trăm lần nữa và đã nộp đơn xin phép thành lập quỹ tín thác bitcoin đầu tiên của thế giới. Họ đã bỏ ra 11 triệu đô-la mua bitcoin khi giá còn ở dưới mức 200 đô-la.
Giới thứ hai là dân “khai mỏ”bitcoin chuyên nghiệp. Trước đây cộng đồng tin học chỉ dùng máy tính bình thường để làm việc ghi nhận giao dịch vào sổ cái. Nay đã có cuộc chạy đua trang bị máy ngày càng mạnh để khai thác bitcoin, trong đó dân chơi trang bị cả dàn máy chuyên dụng, đắt tiền, chạy suốt 24/24. Năng lực tính toán của tất cả các máy tham gia chuyện này nay đã gấp 100 lần 500 siêu máy tính mạnh nhất thế giới. Dân “khai mỏ” cho biết đầu tư kiểu này giờ đây không còn có lãi nữa trừ phi tìm được nguồn điện miễn phí hay giá cực rẻ.
Ngoài ra ăn theo bitcoin còn có hàng ngàn trang web lập ra để chuyên mua bán bitcoin qua mạng, loại này ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều. Cũng có những trang web bán công cụ phái sinh dựa vào sự lên xuống của giá bitcoin. Nói chung làn sóng đầu cơ đang sôi nổi và chưa có dấu hiệu sụp đổ, bất kể giá cả của nó lên xuống bất thường với độ giao động cực lớn, bất kể những cảnh báo của các nhà kinh tế và những tờ báo lớn. Tương lai của Bitcoin như thế nào, chưa ai biết. Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ còn phải nghe đến nó nhiều trong năm nay và năm tới.


Bí ẩn chung quanh cha đẻ Bitcoin
Nhiều người nay đồng ý nhân vật được xem là cha đẻ bitcoin - Satoshi Nakamoto không phải là một con người thật (Satoshi tiếng Nhật có nghĩa là khôn ngoan). Có người cho rằng đây là một cách viết tắt tên bốn tập đoàn công nghệ (SAmsung, TOSHIba, NAKAmichi, and MOTOrola); có người cho rằng đây là một nhóm người, có thể là của Google hay của Cơ quan An ninh Quốc gia của Mỹ. Các phỏng đoán này dựa trên sự tinh vi của cơ chế Bitcoin mà một người khó lòng nghĩ ra; những ai liên lạc với Satoshi qua email đều được hồi đáp nhưng cứ hai tuần mới trả lời một lần bằng thứ tiếng Anh hoàn hảo. Ngày 5-12-2010  khi cộng đồng bitcoin kêu gọi Wikileaks chấp nhận tiền quyên góp bằng bitcoin, Satoshi can ngăn, với lập luận rằng dự án phải được phát triển dần dần để hoàn thiện phần mềm chứ làm người ta chú ý quá thì sẽ sớm giết chết nó. Bảy ngày sau anh ta biến mất, không để lại một dấu vết nào nữa. Thế nhưng bitcoin đã bắt đầu cuộc sống riêng của nó bất kể Satoshi.

link : http://nguyenvanphu.blogspot.com/2013/12/bitcoin-1.html

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Thiên đường thuế có tiền bẩn VN?

BBC 23 Jan 2014
Một cuộc điều tra lớn trên phạm vi quốc tế thu thập được nhiều tư liệu tài chính rò rỉ cho thấy thân nhân của giới lãnh đạo Trung Quốc nắm trong tay nhiều công ty hoạt động ở các ‘thiên đường thuế’.
Tài liệu mật nằm trong 2,5 triệu files mà Liên hiệp Nhà báo Điều tra Quốc tế (ICIJ) tổng hợp được hé lộ nhiều nhân vật quyền thế trong hệ thống chính trị Trung Quốc đã lập ra các công ty và tài khoản đặt tại Cook Islands hoặc British Virgin Islands là những nơi bị coi là có điều kiện trốn thuế dễ dàng.
Cáo buộc rửa tiền của các “Thái tử Đảng” Trung Quốc, đặc biệt là ở British Virgin Islands đã đặt ra câu hỏi có hay không những quốc gia có thể chế chính trị giống Bắc Kinh theo gót chân họ.
Điểm đáng chú ‎ý là trong danh sách đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) mà Bộ Kế Hoạch và Đầu tư Việt Nam công bố, British Virgin Islands, nơi bị cho là điểm rửa tiền chính của Thái tử Đảng TQ, cũng chính là nơi đã đầu tư vào Việt Nam 15 tỷ USD, tính đến cuối năm 2012.
Nếu tính thêm nơi thứ hai là Cayman Island thì tổng số tiền đầu tư có thể có khả năng bất chính vào Việt Nam lên tới 23 tỷ và nếu tính tất cả các hòn đảo nhỏ, lên tới 30 tỷ USD, tương đương 14% tổng FDI vào Việt Nam tính tới cuối 2012.
“Việc rửa tiền, hoặc trốn thuế ở các hòn đảo nhỏ là vấn đề nhiều nước đang gặp phải kể cả Mỹ”, Tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hợp Quốc nhận định.
Trong email gửi cho BBC, ông Tiến sĩ Việt mô tả về sự khác biệt của những cách mà ông gọi là “cách cò con và cách đại gia”.
‘Hóa đơn dịch vụ’
“Để chuyển tiền (bất chính), tiền phải bỏ vào va li xách lậu qua phi trường, hải cảng. Cách chuyển tiền này hiện nay bị theo dõi chặt chẽ hơn vì nạn rửa tiền, hoặc vì tiền có thể dùng để tài trợ khủng bố.
“Từ Việt Nam, ngoài cách xách tiền bằng vali, cách chuyển được làm phổ biến là đầu tư vào bất động sản, rồi đem bán và chuyển chính thức sang nước ngoài, khi đã định cư được một người trong gia đình ở nước ngoài. Đi du học rồi cưới người bản xứ là cách định cư người ra nước ngoài.
“Cách làm này là cách làm cò con”, ông Việt nhận định.
Tiến sĩ Việt mô tả cách làm lớn của các đại gia là mở công ty ở British Virgin Island hay Caymans Islands.
“Các đại gia sẽ không cần chuyển tiền lậu ra nước ngoài, vì có thể bị bắt, mà mở công ty. Khi công ty đã được mở ở British Virgin Island hay Caymans Island, công ty của họ chỉ cần gửi hóa đơn tính dịch vụ phí một công ty ở Việt Nam.
“Đồng tiền đen (tham nhũng) ở Việt Nam theo đó sẽ được chuyển ra ngoài một cách hợp pháp.
“Các công ty này khi có đủ tiền thì lại đầu tư lại vào Việt Nam, tức là đưa tài sản ngược lại Việt Nam, hợp pháp hóa toàn bộ số tiền tham nhũng.
“Với tài sản có sẵn, họ lại thu mua các công ty nhà nước được cổ phần hóa (với giá rẻ mạt), điều đã xảy ra ở Nga và Trung Quốc”, Tiến sĩ Việt bình luận.
‘Thuê thám tử’
Trong một email gửi Giáo sư Trần Hữu Dũng tại Hoa Kỳ, ông Việt được dẫn lời nói “Nếu ông Nguyễn Phú Trọng muốn chống tham nhũng thì ông ấy cần bỏ tiền thuê thám tử phương tây điều tra các tên tuổi Việt Nam đã đăng ký ở British Virgin Islands”.
Quốc hội Việt Nam vào 18/06/2012 ban hành Luật Phòng, chống rửa tiền, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.
Ngày 04/10/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống rửa tiền (hiệu lực 10/10/2013) qui định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền.
Nghị định này nói NHNN phải phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan khác kể cả việc giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao trong công tác phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố.
Hiện chưa rõ Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng Chống tham nhũng của Bộ Chính trị có vai trò gì trong hoạt động phòng chống rửa tiền.

link : http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/chuyn-di-fdi-phn-1.html

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Bao Giờ Xuân Sang ?

Bao Giờ Xuân Sang ?
T/S Alan Phan

Bài này đã được xuất bản trong tờ báo Xuân cuối cùng của Saigon Tiếp Thị ra ngày 11 Jan 2011. Bài viết được, hay bị, SGTT biên tập lại và có tựa là “Hai Én, Năm Voi”. Xin post bài original nơi đây để mọi BCA so sánh và biết cho vui những điểm nhà nước hay “nhột”.

10 Dec 2013
Có những đêm đông dài vô tận. Chờ đến sáng mỗi ngày đã vô cùng mệt mỏi mà đợi cho cả mùa đông trôi qua để đến với chu kỳ mới của mùa xuân là một hành trình vô cùng thử thách cho trí tuệ cũng như tâm thần. Nhất là tuổi trẻ. Trong thời đại của Internet và văn hoá fast foods, cái gì không đến ngay bây giờ dễ gây ra nhiều thất vọng chán chường.
Dù già và học nhiều về bài học kiên nhẫn, tôi vẫn nghĩ nếu mình là một công dân của Zimbabwe hay Bắc Triều Tiên, mình sẽ phải hành xử ra ra sao mỗi ngày, mỗi giờ? Liệu mình có còn tin tưởng là cuối cùng rổi thiên nhiên cũng đem mùa xuân trở lại hay mình sẽ chết mòn trong tuyệt vọng giữa đêm đông?
Có những dân tộc may mắn, sống lên giữa những bốn mùa tiếp nối khá chuẩn điệu, như Âu Mỹ Úc Nhật. Họ không cần phải thao thức, sớm hay muộn chút thì mùa xuân cũng đến thôi. Nhưng có những dân tộc trong các xứ sở mà sự vận hành chính trị, kinh tế và xã hội lại là những yếu tố bí ẩn, mờ ảo…chi phối bởi những quyền lực và lợi ích sau bức màn nhung (dù đã rách nát). Công dân các xứ như Trung Quốc, Nga…phải nghĩ gì trong từng đêm đông?
Dĩ nhiên cho đến một lúc nào đó, những chùm hoa mai, hoa cúc…rồi sẽ đâm chồi, những con chim trốn tuyết rồi lại quay về cố hương và những hy vọng mới về một tương lai tốt đẹp hơn sẽ đến trong lòng số đông. Nhưng hiện nay, ngay tại quê hương, chúng ta vẫn phải trực diện với những vấn nạn chưa giải quyết được, dù vài tín hiệu cũng cho thấy sự đổi thay cũng gần kề.
Hai điểm sáng duy nhất của kinh tế xứ này, và dĩ nhiên chúng sẽ đem theo những điều chỉnh về chính trị và xã hội, là sự phát triển mạnh của khu vực FDI (đầu tư từ nước ngoài) và con thiên nga đen TPP (Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương). Sự ký kết và thực hiện TPP được nhiều chuyên gia tiên liệu vào cuối 2014 sẽ mở rộng thị trường may mặc, giầy dép…và đương nhiên cũng lôi kéo thêm nhiều FDI trong lãnh vực này.
Trong khi đó, gia tăng của FDI sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho nhân công, cho họ một thu nhập cao hơn, kích thích tiêu dùng và ổn định xã hội. Các đầu tư của nước ngoài cũng gián tiếp ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán và bất động sản, hạ áp lực về nợ xấu ngân hàng và ngân sách chánh phủ.
Ở bình diện khác, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thử thách có thể giảm thiểu, ngay cả phá vỡ, tác dụng của hai “con én” FDI và TPP, đang lẻ loi trong mùa xuân mới.
  1. 1.      Bình cũ rượu cũ
Kinh nghiệm khi nhìn qua Trung Quốc và những cố gắng cải cách gần đây của ông Tập Cận Bình và nhóm lãnh đạo bao quanh là một sự thất vọng của hành động nửa vời. Khi nhất định giữ cơ chế chánh trị và quyền lợi của nhóm tư bản đỏ qua sự chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, mọi thay đổi về kinh tế sẽ hời hợt và chỉ gia tăng lợi thế của khu vực FDI. Thực ra, nhóm lãnh đạo Trung Quốc cũng không đủ quyền lực để lựa chọn. Ngày xưa, khi ông Đăng Tiểu Bình thực hiện “cải cách”, kinh tế Trung Quốc còn nghèo và nhóm lợi ích rất thưa thớt. Ngày nay, đối thủ của ông Tập mạnh và giàu hơn nhiều. Mọi người thoả hiệp là “bứt dây thì động rừng” nên có lẽ họ không thực sự muốn thay đổi.
Chỉ số “giàu nghèo”, “thành phố – nông thôn”, “các tỉnh Đông – Tây”…vẫn rất nhiều khác biệt và sự bất mãn của đa số dân Tàu nghèo vẫn ám ảnh an sinh xã hội. Kinh tế sẽ vẫn bế tắc về lâu về dài và mọi thay đổi đang được đẩy lùi về phía sau để một thế hệ trẻ mới của Trung Quốc tự lo liệu.
Việt Nam đang sao chép kịch bản tái cấu trúc này của Trung Quốc.
  1. 2.      Yếu kém của khu vực tư nhân
Sau 8 năm thử thách khi gia nhập WTO, các doanh nghiêp tư nhân Việt vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, dù cạnh tranh trên sân nhà, với chi phí điều hành thấp và vẫn được bảo vệ với nhiều đặc lợi trong nhiều lãnh vực. Ngoài việc sản xuất gia công và tiến bộ trong nông nghiệp, thành quả về tài chánh cho thấy sự thua yếu trong quản trị, thiếu sót về sáng tạo, nhất là kiến thức kinh nghiệm về biển lớn ngoài kia. Thử thách lớn nhất vẫn là một tư duy “xin-cho”, làm ăn theo quan hệ… đã mọc rễ sau 80 năm của bao cấp, tiểu nông và gia đình.
Không một thương hiệu Việt nào có thể xâm nhập thị trường Âu Mỹ dù lợi thế nguyên liệu về gạo, cà phê, giầy dép, nội thất…rất dồi dào. Thay đổi tình thế là việc làm khả thi, nhưng sẽ mất rất nhiều năm ngay cả thập kỷ.
  1. 3.      Yếu tố thời gian
Trong khi đó, những tiến bộ về công nghệ mới, hệ thống quản trị, nguồn lực tài chánh…của thế giới không ngừng tăng tốc. Trong định chế cạnh tranh tự do, không ai chờ đợi Việt Nam tái cấu trúc để cùng song hành (OK, có lẽ Bắc Triều Tiên và Cuba). Điều này có nghĩa là sự cách biệt về kinh tế của các nước đang và đã phát triển so với các nước tụt hậu sẽ mỗi ngày mỗi lớn.
Với thông tin đa dạng và cập nhật từng giây qua Internet, áp lực đòi hỏi từ dân chúng, từ nhu cầu mới, từ thu nhập…sẽ vô cùng lớn lao, gây bất ổn trầm trọng cho an ninh xã hội. Tường lửa hay tường thép của công an sẽ không còn hiệu lực khi làn sóng bất mãn tràn ngập đa số người dân.
  1. 4.      Giáo dục văn hoá
Một yếu tố quan trọng và luôn luôn là khởi điểm cho mọi phát triển hiện đại là dân trí người dân hình thành từ nền giáo dục khai phóng tự do. Với những hiện tượng gần đây xẩy ra trong hành xử nhỏ nhặt nhất của tương tác xã hội (nạn hôi của, lừa đảo, chụp giựt, côn đồ, vô cảm…) cho thấy Việt Nam còn mất ít nhất vài ba thế hệ nữa mới sản sinh một đa số văn minh và có đạo đức dân sự. Các quan lãnh đạo thì còn tha hoá suy đồi hơn cả dân.
Hiện tượng du học cao độ chẳng qua là một hình thức tỵ nạn vì hệ thống giáo dục trong nước gần như không còn điểm sáng. Sự tuyệt vọng của các bậc phụ huynh, cô thầy cũng như con em học sinh hiện rõ trên từng lời kêu cứu trên mọi mạng truyền thông, trái hay phải. Nền giáo dục hiện tại còn tiếp tục thì chuyện phát triển đất nước cho kịp đà tiến của nhân loại vẫn chỉ là một “chém gió”, càng nói nhiều càng thấy khôi hài.
  1. 5.      Môi trường an sinh
Quan trọng hơn hết, để có một cuộc sống khả dĩ chấp nhận được, con người cần một môi trường bảo bọc yên ấm của gia đình, bạn bè, tha nhân. Khi chúng ta phải đối diện hàng ngày với thực phẩm pha trộn hoá chất độc hại, nước và không khí ô nhiễm tệ hại, trộm cướp từ những người quen hay sơ, phong bì đều đều cho các quan… thì tâm không an và thân xác thì phó mặc cho may rủi. Ngay cả khi vào bệnh viện, không ai biết những gì sẽ xẩy ra cho mình vì một hệ thống y tế cực kỳ xuống cấp trên mọi góc độ.

Theo phong tục, mùa Xuân nên nói toàn chuyện lạc quan để lấy hên. Tôi bắt đầu với tiền đề đó khi tìm ra 2 con én FDI và TPP. Nhưng thực tại luôn can thiệp. Thử thách của của nền kinh tế Việt Nam quá lớn như “5 con voi to tướng trong phòng” tôi vừa nói đến. Không thể bịt mắt để mơ mộng về “tiền rừng bạc biển”, về “tự hào dân tộc” hay về “ quốc gia công nghiệp cho 2020”. Ở một bình diện khác, với tôi, ý nghĩa của mùa xuân là sự định giá chuẩn xác vị trí của mình và một kế hoạch bài bản để thực hiện nghiêm túc, đem lại một mùa xuân đích thực cho quê hương.

Alan Phan





Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

12:25-05/02/2013 
Cạn vốn
Hà Huy Khoái

Năm cũ đi qua, năm mới vừa đến, cái từ được nghe nhiều nhất, nghe khắp mọi nơi là vốn. Hình như ai cũng thiếu vốn. Vậy nên lẽ ra mừng xuân thì phải có cài chủ đề gì vui vui, đằng này Tia Sáng lại cũng đưa ra chủ đề “vốn”. Mà mình cũng đã cạn vốn. Không phải chỉ cạn tiền, mà như cạn nhiệt tình, nên không biết viết gì nữa. Ngẫu nhiên lật một trang Sông của Nguyễn Ngọc Tư, bắt gặp ngay câu: “Đất nước này vốn dựa vào thần thánh, vào anh hùng mà sống, rồi bỗng dưng hai thứ đó vắng teo”.

Sao lại bỗng dưng? Có cái gì lại bỗng dưng mà vắng teo đâu.
Hình như trước đây Chế Lan Viên cũng nói đại ý:
Một đất nước thường sống bằng tiềm lực, Trong mỗi quả thị nghèo đều có một nàng tiên.
Ngày nay vốn anh hùng, vốn thần thánh, vốn tiềm lực, cạn cả rồi chăng?
Không còn vốn thần thánh để răn đe, nên người nông dân hiền lành chất phác cũng sẵn sàng tiêm thuốc độc vào hoa quả cho người khác ăn, miễn là mình thêm chút vốn tiền.
Không còn vốn anh hùng nên giữa đường có thấy sự bất bằng, người ta cũng bỏ qua. Nên một tên côn đồ với con dao trong tay có thể khống chế cả xóm.
Nhớ lại hồi còn chiến tranh, cái vốn niềm tin sao mà lớn quá. Ai cũng tin sẽ đến ngày hết chiến tranh, đất nước thống nhất. Chỉ là không biết bao giờ thôi. Người ta đoán già, đoán non, mang cả “sấm Trạng Trình” ra để đoán. Có người dẫn câu:
Mười người chết bảy còn ba
Chết hai còn một mới ra thái bình

Nhưng không ai thích câu đó, vì nghe ghê gớm quá, vì người ta chỉ tin vào những gì tốt đẹp thôi. Vậy là tìm được câu sau, cũng của Trạng Trình:
Mã đề giương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

Đó là vào năm 1965, năm Tỵ. Người ta đoán là sang năm Ngọ, mã đề giương cước thì anh hùng chết sạch! Nhưng vì niềm tin lớn quá nên người hay chữ lại giải nghĩa rằng “anh hùng tận” ở đây là tất cả đều là anh hùng, ứng với cái câu cửa miệng thời đó “ra ngõ gặp anh hùng”. Và người ta đều mong sang năm Thân (1968), năm Dậu (1969), cái sự thái bình bắt đầu được kiến tạo.
Thế mới phục Trạng Trình, viết để người ta giải thích thế nào cũng được. Nhưng giải thích thế nào, cũng lại tùy thuộc cái vốn của người đọc mà thôi. Mấy câu đó mà đưa ra bình bây giờ, cũng lại vào năm Tỵ, chắc phải có nghĩa khác.
Ngẫm ra trong mọi loại vốn, có lẽ cái vốn niềm tin là quan trọng nhất. Chỉ xin kể câu chuyện nhỏ này thôi.
Có hai người tù binh nằm chung một xà lim, một già, một trẻ. Hai người ngày ngày đào tường để mong trốn thoát. Cho đến hôm đào thông được ra ngoài, người tù già đưa cho anh bạn tù trẻ cái bọc nhỏ và dặn: “Lão già rồi, có trốn ra cũng không đủ sức về đến nhà. Chú cầm lấy cái gói này. Đây là khúc bánh mỳ mà lão đã giữ để phòng xa. Nay đưa để chú phòng thân. Chỉ nhắc chú một điều, trước khi mở ra ăn thì nên tự hỏi là đã đến mức tuyệt vọng chưa, hay vẫn còn cố được. Nếu thấy vẫn chưa phải là lúc tuyệt vọng nhất thì khoan hãy mở”. Anh bạn trẻ, trải qua bao khó khăn, về được đến nhà. Kể lại câu chuyện cho cả nhà nghe, anh ta nói rằng đã rất nhiều lần định mở cái gói, nhưng lại tự nhủ là vẫn chưa đến nỗi tuyệt vọng, nên để dành lại cho lúc khó khăn hơn. Chính vì niềm tin là vẫn còn vốn đó nên anh ta đủ nghị lực về được đến nhà. Trịnh trọng đặt cái gói lên bàn và mở ra cho cả nhà xem, anh chàng kinh ngạc vì đó chỉ là một hòn đá!
Đất nước bốn ngàn năm, cái vốn niềm tin đâu chỉ nhỏ như hòn đá. Vậy nhưng xin đừng phung phí nó. Hết cái vốn đó rồi, khi tuyệt vọng biết bấu víu vào đâu?
Tin bàiĐóng
12:32-06/02/2013 
Câu chuyện của niềm tin
Giáp Văn Dương

1. Như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học.


Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài, tôi có bạn bè mới, thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên.

Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền được người khác tôn trọng.

Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ. Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng bản gốc.

Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự, không gây cho mình cảm giác khó chịu.

Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng. Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi.

Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. Điều khoản cho biết, nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế.

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực, xác nhận... 

Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

2. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa.

Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?

Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong.

Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy.
Tôi ngẫm ra: Càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

3. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng phải niêm phong rồi mới được mang theo.

Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định!

Quy định gì? Quy định không được tin nhau.

Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh cho ra ngoài.

Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2 mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn thì mới được ra?

Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định.

Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét đó để phải chịu cảnh khám xét?

Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và chờ đợi cảnh được khám xét.

Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể.

Tôi rút ra kết luận: Nhiều người Việt không tin người Việt. Nhiều người Việt không hiểu rằng mình có quyền phải được người khác tôn trọng.

4. Chúng tôi ra về, nhưng vẫn ám ảnh câu hỏi: Vì sao người Việt không tin nhau? Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện?

Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời gian cho những thứ này?

Tôi thở dài: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”?

Và khi nào thì người ta không tin nhau?

Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá.

Vậy là đang có một sự dối trá phổ biến, đến mức một đoạn đường 2 mét và được kiểm soát chặt chẽ cũng trở nên đáng ngờ.

Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này?

Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. Nhiều đến mức có thể làm cho đất nước ta kiệt quệ. Kiệt quệ vì luôn phải cảnh giác, đề phòng.

5. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển. Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã trờ thành một lối sống của xã hội? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa người với người đã trở nên cạn kiệt?

Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của mình?

Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó thực sự có một sự hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Muốn vậy cần xóa bỏ mọi nghi kỵ lẫn nhau giữa mọi tầng lớp xã hội.
***
Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm sao phát triển?
02:30-13/01/2014 
Hy vọng những đốm lửa nhỏ, cần mẫn
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn
TS Giáp Văn Dương

Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.

Cạn kiệt niềm tin

Cũng khoảng giờ này năm ngoái, khi mới chân ướt chân ráo trở về, sau khi có trải nghiệm thực tế, tôi có viết một bài báo nhỏ có tiêu đề: Câu chuyện của niềm tin.

Đại thể, tôi kể lại những va chạm thực tế để thấy rằng, mất niềm tin đang là cái đáng lo ngại nhất trong xã hội Việt Nam dưới con mắt của người mới nhập cuộc. Vì thiếu niềm tin nên mọi việc bỗng trở nên khó khăn và tốn kém gấp bội. Cuộc sống bỗng trở nên toàn màu xám. Con người căng thẳng, hiệu năng làm việc thấp vì hợp tác kém, mà lý do chính là không tin nhau, nên dành thời gian kiểm soát nhau vì phối hợp làm việc chung.

Ngay lúc đó, tôi đã nhận ra rằng: Một trong những vấn đề lớn nhất mà xã hội này phải đương đầu là sự mất niềm tin trầm trọng. Niềm tin giữa người dân và chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, tóm lại giữa người và người, và đặc biệt là niềm tin vào bản thân mình.

Sau đó, mỗi khi gặp mặt, ngay cả với giới tinh hoa, giữa những than thở, hay đằng sau ánh mắt xa xăm, là một sự chán nản và khắc khoải. Rất ít hy vọng và lòng tin trong các câu chuyện. Sau những lần như thế, tôi thấy rất mệt mỏi. Sinh lực dường như đã bị rút hết đi, đến mức nhiều khi sợ gặp gỡ, vì sợ phải nghe những lời than như vậy.

Trong số những người tôi quen biết mỗi người chọn một cách phản ứng khác nhau. Nhiều người chọn sự cam chịu. Nhiều người lảng tránh, lảng tránh thực tại, lảng tránh nhìn vào mắt đối diện.

Nhiều người giết thời gian trên bàn nhậu. Có tiền thì nhậu sang, ít tiền thì bình dân. Thanh niên ít tiền hơn thì giết thời gian trong các quán trà đá vỉa hè.

Người không thích nhậu, hoặc không đủ sức để nhậu hoặc không có tiền để nhậu thì vùi mình vào các trang lá cải, mỗi ngày ngốn hàng chục bài tin tức, na ná như nhau vô thưởng vô phạt. Sau đó bức xúc một hồi, càm ràm hoặc nặng hơn là chửi đổng vài câu rồi lại vùi đầu đọc tiếp.

Nhiều người bức xúc quá có phản ứng mạnh. Nhưng như con cá nằm trên lưới, càng giẫy giụa càng đau đớn. Nên sau mỗi hồi mệt mỏi cũng đến lúc nằm im "makeno".

Kinh tế khó khăn, tinh thần bức bối, đặc biệt phát ngôn của các quan chức, các nhà làm chính sách bỗng trở nên đáng ngờ. Các mạng lưới hoạt động trong xã hội giờ chỉ còn quan hệ huyết thống đáng tin cẩn.Vì thế, vun vén cho gia tộc xây dựng nhà thờ họ, đã trở thành một trong lối sống của những người có địa vị trong xã hội.

Xã hội như vận hành bởi bộ tiêu chuẩn kép. Ai cũng biết vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vẫn là như vậy.Nên ở cơ quan sống theo một chuẩn khác, về nhà lại một chuẩn khác nữa. Mỗi người phải đóng quá nhiều vai diễn, đến mức mệt mỏi kiệt quệ, mà không biết để làm gì.

Chưa bao giờ các hoạt động tâm linh cúng bái lại phát triển như hiện giờ, bất chấp khoa học đã phát triển nhiều hơn so với hàng chục năm về trước, thông tin cũng phong phú hơn nhiều.Vì sao vậy? Vì người ta không tin ở con người, nên đành tìm đến nơi thánh thần, dù biết rằng cũng nhiều kẻ lợi dụng việc này để trục lợi.

Nhiều lần đi qua các quán nhậu ven đường, tôi đã tần ngần tự hỏi: sao trong giờ làm việc lại đông người lang thang quán xá đến như vậy?

Những nơi tôi đi qua không ở đâu thấy đông thanh niên trai tráng ngồi lê la vỉa hè, cắn hạt bí, hạt hướng dương, uống nước chè, tập tành hút thuốc lào, nói bậy và chửi đổng... nhiều như trên vỉa hè Hà Nội, đặc biệt là các nơi cổng trường đại học.

Không ai nói chuyện khoa học, văn chương. Không ai quan tâm đến bảo tàng, triển lãm. Không ai bàn tán về các thành tựu khoa học, nhân văn mới. Không ai đả động đến ước mơ hay khát vọng.

Những buổi nói chuyện dành cho đại chúng về các chủ đề rất mới, do các học giả nổi tiếng thuyết trình, cũng không có nổi đến vài chục người tham dự. Mà nếu có thì vẫn những khuôn mặt ấy. Rất cũ!

Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.

Trên mặt bằng truyền thông thì còn những tệ hại hơn nhiều. Nếu rút tất cả những tin liên quan đến chuyện hở hang, chém giết, sốc, sex, giật gân thì bỗng thấy nhiều tờ báo sụp cái rầm vì trống trơn bài vở.

Một năm trôi qua, câu chuyện lại có phần thêm u ám. Một xã hội thiếu hụt niềm tin mỗi ngày thêm hiển hiện rõ nét qua từng việc cụ thể chứ không chỉ là cảm giác như ngày nào.

Mỗi khi cầm một xấp giấy tờ với chồng chất dấu mộc đỏ choét tôi không khỏi ngần ngại. Chưa ở đâu tôi thấy những văn bản giấy tờ cần nhiều dấu đỏ như vậy, qua nhiều cửa ải xét duyệt như vậy. Nhưng cũng chưa ở đâu sự giả mạo trở nên phổ biến, được giao bán công khai như ở đây.

Cái nguy hiểm của sự mất niềm tin này là sự bào mòn sinh khí. Nếu như sự sợ hãi làm cho con người ta co cụm, đến một lúc nào đó có thể tạo ra một sự phản ứng đủ mạnh để vượt qua, thì mất niềm tin không gây ra một cảm xúc mạnh như vậy. Nó chỉ là đơn giản là làm mất hết sinh khí, vì người dân không còn tin vào công lý, không tin vào chính quyền, không tin ai, và không tin ngay cả chính bản thân mình.


Kiệt quệ vốn xã hội

Còn nhớ mỗi khi bàn về vốn xã hội, tuy có nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng chúng tôi đều thống nhất ở một điểm: Niềm tin nằm ở trái tim của vốn xã hội. Đó là niềm tin giữa người với người, người với thể chế, người với chính bản thân mình.

Vậy là niềm tin, một khái niệm xa lạ với môn kinh tế học phát triển, đã có được chỗ đứng đàng hoàng trong lòng nhiều nhà kinh tế học.

Niềm tin đã trở thành một thứ vốn của xã hội. Mà đã là vốn thì có thể dùng để sinh lợi. Trong trường hợp này, niềm tin đã trở thành một thứ tài sản giúp cho xã hội hoạt động trơn tru hiệu quả hơn, chi phí giao dịch vì thế mà ít đi.

Khi có niềm tin thì việc gì cũng suôn sẻ dễ dàng. Điều này đúng quy mô cá nhân, đúng cả quy mô quốc gia.

Các chính trị gia lão luyện Đông Tây kim cổ đều đặt vấn đề xây dựng lòng tin với với dân mình lên hàng đầu. Ngay ở Việt Nam cũng có những ví dụ này từ xa xưa trong lịch sử. Tương truyền, để dân tin vào cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, trong lúc binh yếu lực mỏng, Nguyễn Trãi đã cho dùng mật mỡ viết lên tám chữ: Lê Lợi vì quân, Nguyễn Trãi vi thần lên lá đa. Kiến thấy vậy bu vào đục thành chữ. Người dân đọc được thì tin rằng đây đúng là mệnh trời. Bài học vỡ lòng dành cho các chính trị gia xem ra vẫn còn điều xa lạ.

Tất nhiên, bên cạnh niềm tin, thì vốn xã hội còn thêm các yếu tố khác nữa. Có thể kể hai trong các số đó: thói quen tập tục, truyền thông văn hóa ứng xử; và sự phong phú lành mạnh của các hội đoàn, tức của mạng lưới xã hội dân sự.

Tiếc rằng, cả hai yếu tố này cũng rất yếu. Đút lót hối lộ dường như đã trở thành văn hóa, gọi là văn hóa phong bì. Sự giả dối đã tràn vào cả trường học, nên bị gọi là "nỗi buồn lớn ngành giáo dục"

Cuộc khủng khoảng kinh tế kéo dài suốt mấy năm nay lại càng làm cho vốn xã hội thêm kiệt quệ. Lẽ ra nếu có một vốn xã hội thắt lưng đủ đầy, người dân sẽ dễ vượt qua những thời khắc khó khăn hơn. Vì tin nhau, tin vào quan chức và chính sách chung. Đằng này quan chức nói gì, dân chúng lại bảo nhau làm ngược lại.

Kinh tế rối loạn, lòng người hoang mang. Khó khăn càng thêm chồng chất không biết đến bao giờ mới gỡ được.

"Mất tiền là mất ít, mất bạn là mất nhiều, nhưng mất lòng tin là mất tất cả". Người xưa đã tổng kết như vậy, nên thấy thực trạng này, không ai tránh khỏi sự buồn rầu.

Nhiều lúc nhìn xã hội như mớ bòng bong, không biết lần ra đằng nào. Mà lần ra được rồi thì cũng không gỡ ra được vì nó xoắn xuýt chặt chẽ vì lợi ích, vì bè phái, vì u mê.

Nguyên nhân vì đâu? Tất nhiên là vì cơ chế. Ai chả nói thế. Dễ nhất và trúng nhất. Nhưng cơ chế do ai làm ra? Tất nhiên là do con người, trong đó có tôi và bạn.

Nhưng cụ thể hơn, đó là cái gì của tôi và bạn? Sức khỏe, văn hóa, tri thức, học vấn, kỹ năng, tinh thần sáng tạo, ước mơ khát vọng, lòng quả cảm, sự dấn thân... hay còn gì khác nữa?

Câu trả lời là tất cả.

Đến đây lại thêm giật mình. Thì ra mọi thứ chưa tốt như mong đợi cũng có phần ta đóng góp. Vậy nên, thay vì trông chờ vào một sự thay đổi lớn hãy chủ động tạo ra những sự thay đổi nhỏ trước đã.

Nếu không thay đổi được đời, thì thay đổi ta trước vậy. Khi những ngọn đuốc lớn đã không thể cháy thì chỉ còn hy vọng vào những đốm lửa nhỏ, kiên nhẫn và cần mẫn.

Nhiều việc nhỏ góp lại sẽ thành việc lớn. Xưa nay vẫn thế, có cách nào khác được.

Đọc thêm: 

Câu chuyện của niềm tin

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=42&News=6140