Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả khác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả khác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

KHÔNG TRANH CÃI KHI KHÔNG CÙNG HỆ GIÁ TRỊ

Sáng nay nhiều anh chị inbox cho tôi nội dung anh Hoàng Linh (Báo Tuổi Trẻ) viết là “10 người mất mạng sau cơn mưa... là kiểu đùa vô văn hoá”. Ai cũng tỏ ra sốt ruột và lo lắng cho tôi vì sợ tôi bị mất văn hoá.

 Tôi lại bật cười.

Có một sự thật không thể thay đổi rằng, mỗi người có một hệ giá trị khác nhau. Mà nguyên tắc là khi không cùng hệ giá trị thì chỉ nên tôn trọng như tôn trọng sự khác biệt, tuyệt đối không nên tranh luận. Bởi đã khác hệ giá trị rồi thì tranh luận đến chết cũng không thống nhất được ai đúng ai sai.

Đại gia đình tôi ở quê, hầu như đàn ông trong nhà đều mê bóng đá, chỉ có cậu Năm không mê. Khi cả nhà tập trung luộc bắp coi một trận World Cup, cậu Năm ghé 5 phút và chán nản bỏ đi, bảo “mấy chục thằng tranh nhau quả bóng, sao không mua mỗi đứa một quả”. Tôi không thể nói với cậu rằng bóng đá hay lắm, nó hay vầy hay vầy, vì tranh cãi là vô ích.

Một người bạn của tôi ngạc nhiên khi thấy tôi có thể thức thâu đêm coi trực tiếp một trận quần vợt 4 tiếng đồng hồ. Bảo “có trái bóng nhỏ đánh qua đánh lại, có gì hay mà coi say mê vậy”. Tôi không thể ngồi tranh cãi rằng nó hay lắm, nó hay vầy hay vầy. Vì nói cũng vô ích.

Hai năm gần đây, bạn tôi chuyển qua chơi golf. Vợ anh ấy cằn nhằn, bảo đó là trò cuốc đất vô bổ và rửng mỡ. Bạn tôi không có cách nào giải thích cho vợ hiểu và tin rằng môn golf nó thú vị thế nào.

Tương tự, con người có nhiều tính cách và nhiều hệ giá trị khác nhau để theo đuổi và hạnh phúc với nó. Có những người hài hước và có những người không hài hước. Lại có những người hài hước kiểu này nhưng cũng có những người hài hước kiểu khác.

Stt tối qua tôi viết (Hơn 10 người mất mạng sau cơn mưa tại TP.HCM...) là một trò đùa câu chữ. Thời điểm này, trong 404 biểu tượng cảm xúc mà người đọc gửi đến, có đến 251 biểu tượng ha ha, tức là họ thấy hài hước và vui vẻ, 117 biểu tượng thích, 3 biểu tượng thả tim, 5 biểu tượng phẫn nộ. Điều này thể hiện, đa số người đọc cảm thấy nó vui vẻ. Nếu anh Hoàng Linh bảo tôi vô văn hoá thì xin chia buồn với 251 người đã thả ha ha, vì các anh chị cũng vô văn hoá như Trần Triều rồi 😅.

Hôm qua, có anh Lê Đức Dục (Báo Tuổi Trẻ) và anh Đức Hiển (Báo Pháp Luật) dẫn stt của tôi về trang của mình, sau đó các page khác dẫn về khiến lượng người tiếp cận nội dung này rất đông.

Theo quan điểm chủ quan của tôi, anh Hoàng Linh không phải là người hài hước hoặc hài hước theo một cách rất khác với tôi. Đọc các bài viết của anh Linh thì không thấy hài hước nhiều.

Vậy tôi mạnh dạn cho rằng, tôi và anh Linh không cùng hệ giá trị với nhau. Tôi theo đuổi phong cách hài hước và cảm thấy hạnh phúc với bạn đọc riêng của mình- những người cùng hệ giá trị với tôi, có thể dễ dàng hiểu và đồng cảm cách viết của tôi.

Còn anh Linh có một hệ giá trị khác mà tôi cũng khó mà hiểu được. Cũng như anh Linh khó mà hiểu được tôi. Tôi không có cách nào giải thích được sự hài hước của mình khi anh Linh cảm thấy nó không hài hước.

Quan điểm của tôi trong việc này là:

-Tôn trọng quan điểm riêng của anh Linh (cho rằng tôi vô văn hoá) và cảm ơn anh Linh đã cho tôi biết thêm một quan điểm mới.

- Có văn hoá là có văn hoá mà không có văn hoá là không có văn hoá. Nếu đang có văn hoá mà anh Linh bảo vô văn hoá thì vẫn là có văn hoá, vì văn hoá là một giá trị, không thể bị mất đi vì một lời người khác nói.
- Tôi không tranh luận với anh Linh là việc đùa của tôi có văn hoá hay vô văn hoá, vì hệ giá trị khác nhau thì tuyệt đối không tranh cãi.

Cuối cùng, tôi rất hạnh phúc khi khiến ít nhất 251 người cười (hiển thị trên FB của tôi) và tin rằng mình không vô văn hoá. Các bạn thân mến của tôi đừng lo lắng nhé. Cuộc sống là vậy, luôn có sự khác biệt, có người này người kia. Quan trọng nhất là được làm điều mình thích mà không phương hại đến ai.

Nhà báo Trần Triều

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016



LÃNH ĐẠO VÀ CẦM QUYỀN



dạy Sử, yêu nước, chính sử, dã sử
TS Giáp Văn Dương. Ảnh: Lê Anh Dũng

Trong những năm học tập và làm việc ở nước ngoài, một trong những điều tôi luôn lưu ý tìm hiểu là: Vì sao họ lại phát triển, còn mình thì không?
Tôi nhận ra rằng, thoạt nhìn thì câu trả lời có thể là do thể chế, hoặc do văn hóa, hoặc do những đặc thù về vị trí địa lý. Nhưng khi suy nghĩ kỹ hơn thì thấy rằng, phía sau tất cả các yếu tố này, bao giờ cũng thấp thoáng hình bóng của nhà lãnh đạo xuất sắc. Có thể nhà lãnh đạo chính là người tạo ra các yếu tố này, hoặc chính là người đã khai thác hiệu quả các yếu tố này, để dẫn dắt sự phát triển của dân tộc họ. Ngay cả khi không có một nhà lãnh đạo xuất sắc hiện diện ở ngay trong hiện tại, thì thể chế ưu việt và nền văn hóa tích cực do những nhà lãnh đạo tiền bối của họ kiến tạo ra vẫn đang đóng vai trò dẫn dắt. Khi đó, chính những nhà lãnh đạo quá cố đó, vẫn đang tiếp tục lãnh đạo gián tiếp đất nước của họ thông qua các di sản về thể chế và văn hóa mà họ đã gây dựng.
Như vậy để thấy, lãnh đạo chính là yếu tố mang tính quyết định đến sự phát triển của một tổ chức, và rộng hơn là của cả một dân tộc. Đặc biệt là trong các thời khắc khó khăn thì vai trò của nhà lãnh đạo lại càng lớn, do phải đương đầu với những tình huống chưa từng gặp qua và đòi hỏi phải ra được những quyết định chính xác mang tính sống còn. Vì thế có thể nói, giới hạn của nhà lãnh đạo chính là giới hạn phát triển của tổ chức mà người đó lãnh đạo, và giới hạn phát triển của một dân tộc, cũng bị quy định bởi chính giới hạn của những người đang lãnh đạo dân tộc đó. Nói cách khác, lãnh đạo là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển hoặc kìm hãm đất nước. Lựa chọn lãnh đạo đất nước chính là lựa chọn vận mệnh của cả dân tộc.
Trong một thế giới nhiều biến động, vai trò của nhà lãnh đạo lại càng nổi bật và trở nên quan trọng. Vì vai trò của nhà lãnh đạo là để chèo lái quốc gia trong những hoàn cảnh khó khăn hoặc bất định hoặc đòi hỏi sự bứt phá. Nếu không có khó khăn, không có bất định, hoặc không đòi hỏi sự bứt phá thì khi đó chỉ cần một nhà quản lý có năng lực để đảm bảo mọi việc diễn ra theo cách bình thường, chứ không cần đến một nhà lãnh đạo đích thực. Vì nhà quản lý sẽ tập trung vào việc thực hiện các kế hoạch đã đặt ra, còn nhà lãnh đạo sẽ thiết kế và hiện thực hóa một tương lai hoàn toàn mới, một sự phát triển mang tính bứt phá, hoặc một chuyển hướng mang tính chiến lược có ảnh hưởng tốt đẹp cho nhiều thế hệ kế tiếp.
Vì quan trọng như vậy, nên lãnh đạo bao giờ cũng là một quan tâm của mọi giới trong xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở mọi nước trên thế giới. Với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, thì chất lượng lãnh đạo lại càng quan trọng, khi phần lớn người dân Việt Nam không được trực tiếp lựa chọn lãnh đạo tối cao của mình.
Thực tế phát triển của các quốc gia cho thấy, đất nước nào lãnh đạo anh minh thì dân tộc đó cất cánh chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, có thể chứng nghiệm trong một đời người, mà Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những ví dụ nhãn tiền, còn dân tộc nào có lãnh đạo u mê thì dân tộc đó chìm trong nghèo hèn hàng thế kỷ, không biết khi nào mới ngóc đầu lên được, thậm chí, ngay sự tồn tại của mình cũng không chắc được đảm bảo.
Từ trong sâu thẳm, nhà lãnh đạo bao giờ cũng mang trong mình những sứ mệnh lớn hơn bản thân, gia đình hoặc phe nhóm của mình. Đó có thể là sứ mệnh giải phóng dân tộc, hoặc tạo ra một sự phát triển vượt bậc cho dân tộc, hoặc giải phóng con người ra khỏi u mê giáo điều. Chính sứ mệnh lớn lao đó chứ không phải những kiến thức chuyên môn, hoặc bè phái cấu kết, làm lên tầm vóc của nhà lãnh đạo, và tạo ra sự phát triển cho cả dân tộc mà họ lãnh đạo.
Vậy nên, muốn phát triển, dù là một tổ chức hay một đất nước, thì điều kiện tiên quyết là tổ chức hoặc đất nước đó phải lựa chọn được một nhà lãnh đạo tối cao xuất chúng. Đó phải là một nhà lãnh đạo đích thực, chứ không phải là một nhà cầm quyền, dù về mặt hình thức, lãnh đạo và cầm quyền có nhiều nét tương đồng.
Chính nhà lãnh đạo đó sẽ là người thiết kế ra những tương lai mới, và thuyết phục được toàn dân tin tưởng vào tương lai đó, để sau đó huy động toàn lực để hiện thực hóa tương lai đó. Thông qua đó, nhà lãnh đạo nhận được sự tin tưởng, và bản thân sự lãnh đạo, như một sự ban trao từ phía người dân. Nếu người được bầu chọn không có khả năng thiết kế ra một tương lai như vậy, và không có khả năng thuyết phục toàn dân tin tưởng vào tương lai đó, và không thể tập hợp được đủ người tài và nguồn lực để hiện thực hóa tương lai đó, thì đó là một sự lựa chọn nhầm lẫn. Trong trường hợp đó, cùng lắm chúng ta cũng chỉ có một nhà cầm quyền, chứ không phải là một nhà lãnh đạo.
Lưu ý rằng, sự lãnh đạo và sự tin tưởng đích thực, bản thân nó không tự xuất hiện với nhà lãnh đạo, cũng không thể giành giật được, mà chỉ có thể có được thông qua sự ban trao từ phía những người được lãnh đạo. Nếu không được ban trao, sự lãnh đạo chỉ có thể gọi tên là sự tiếm quyền. Vì thế, nhà lãnh đạo chỉ xuất hiện khi việc bầu cử được diễn ra trong dân chủ, công khai và minh bạch.
Giờ vừa sang năm 2016, Việt Nam dự kiến sẽ sớm hội nhập sâu rộng với thế giới sau khi hiệp định TTP được ký kết. Nhu cầu phát triển bứt phá của Việt Nam cũng đang là yêu cầu bức thiết, khi chỉ còn khoảng 10 năm nữa thôi là thời kỳ dân số vàng để phát triển sẽ qua đi và bẫy thu nhập trung bình thì đang giăng ra trước mắt. Trong hoàn cảnh đó, một nhà lãnh đạo đích thực là điều mà Việt Nam cần nhất.
Nhưng nhìn quanh thấy thời khắc chuyển giao lãnh đạo đang diễn ra rầm rộ, mà câu chuyện về lãnh đạo vẫn chưa được bàn thảo đầy đủ. Ngoài việc bàn tán ai đi ai ở, với hàm ý ai sẽ nắm quyền lực, thì câu hỏi cơ bản: lãnh đạo có nghĩa là gì, và lãnh đạo khác với cầm quyền như thế nào, lại không thấy ai bàn.
Vậy tại sao lại không đi thẳng vào câu hỏi này: Lãnh đạo có nghĩa là gì, và lãnh đạo khác cầm quyền ở điểm nào?
Khi đã chọn nhìn thẳng vào những câu hỏi căn cốt như thế, thì cách hiểu về lãnh đạo và lựa chọn lãnh đạo cũng sẽ khác đi. Ai đi ai ở không phải là quan trọng nhất, mà ai xứng đáng là lãnh đạo và làm sao để có được người xứng đáng đó mới là điều cốt yếu.
Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ chỉ một điểm này. Những nội dung khác, sẽ bàn trong các dịp thuận tiện khác.
Trước hết cần lưu ý, vì lãnh đạo thường gắn liền với quyền lực và chức vị, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị, nên khi nói đến lãnh đạo, người ta sẽ liên hệ ngay đến chức vị và quyền lực. Do đó, lãnh đạo thường bị đồng nhất với cầm quyền. Nhưng lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau về bản chất. Nhà lãnh đạo không nhất thiết phải có chức vị và phải cầm quyền, còn người cầm quyền, dù có cả chức vị đi theo, cũng chưa chắc đã là nhà lãnh đạo. Chính sự nhầm lẫn về lãnh đạo và cầm quyền đã gây ra những cuộc đua nắm giữ quyền lực không phải cách, dẫn đến việc tạo ra các nhà cầm quyền tiếm danh lãnh đạo, thay vì các nhà lãnh đạo đích thực. Và quyền lực trong trường hợp này trở thành mục tiêu của nhà cầm quyền tiếm danh lãnh đạo, thay vì là công cụ của của nhà lãnh đạo đích thực.
Vậy sự khác biệt đó là gì?

Cách thức đạt được quyền lực

Điểm khác biệt đầu tiên là khác biệt trong cách thức đến với quyền lực. Đây là điểm khác biệt mấu chốt, dẫn đến các cách hành xử khác nhau của nhà lãnh đạo đích thực và nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo. Với nhà lãnh đạo chính trị, quyền lực và rộng hơn là sự lãnh đạo, phải được ban trao từ phía người dân trong sự tin tưởng và tự nguyện. Còn với nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo, quyền lực này có thể đến được thông qua sắp đặt hoặc chiếm đoạt.
Vì sự lãnh đạo là được ban trao từ phía người dân, nên khi thấy nhà lãnh đạo không đáp ứng được kỳ vọng của mình, người dân có quyền và có cơ chế để lấy lại sự ban trao này. Vì thế, lãnh đạo bao giờ cũng gắn liền với nhiệm kỳ. Còn cầm quyền thì ngược lại, quyền lực đến với nhà cầm quyền không bởi sự ban trao, mà qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt, nên về bản chất là không có nhiệm kỳ, và nhân dân bị ngăn cản để lấy lại quyền lực lẽ ra sẽ thuộc về nhà lãnh đạo do nhân dân lựa chọn. Vì lẽ đó, với nhà lãnh đạo thì quyền lực chỉ là một phương tiện để thực hiện công việc lãnh đạo của mình. Còn với nhà cầm quyền, quyền lực trở thành mục đích.
Lưu ý rằng, sự ban trao lãnh đạo này chỉ có thể được thực hiện thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Điều đó có nghĩa, bầu cử để lựa chọn nhà lãnh đạo là quan trọng, nhưng cách thức bầu cử còn quan trọng hơn. Chỉ thông qua bầu cử dân chủ, nhà lãnh đạo mới được ban trao quyền lực. Còn bất kỳ hình thức ban trao nào khác, dù nhân danh bất cứ điều gì hoặc bất cứ giá trị nào, như dòng dõi của các hoàng gia, hay đức tin của các tôn giáo, hay đề cử riêng của các đảng phái, hay bất cứ một nhân danh nào khác ngoài lá phiếu của người dân, thì đó không phải là một sự ban trao đích thực, mà thực chất là một sự sắp xếp. Lãnh đạo có được thông qua sắp xếp, dù theo chủ ý nhất thời của một thế lực nào đó, hoặc là sự mở rộng tự nhiên của truyền thống, thì cùng lắm cũng chỉ có thể là nhà cầm quyền. Còn nếu không thì sẽ rơi vào trạng thái bù nhìn cho các thế lực hậu trường giật dây.
Đó là lý do vì sao ở các quốc gia quân chủ lập hiến, khi ngôi vua được kế thừa theo kiểu cha truyền con nối, thì ngôi vua đó chỉ có giá trị biểu trưng về mặt văn hóa và truyền thống, đóng vai trò như một kết nối trong khối đoàn kết của toàn dân, còn nhà lãnh đạo thực sự đang dẫn dắt quốc gia đó vẫn phải được bầu theo nhiệm kỳ để thông qua đó, nhà lãnh đạo được ban trao quyền lực.
Bản chất công việc lãnh đạo
Điểm khác biệt thứ hai là khác biệt trong công việc thực sự của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền. Với nhà lãnh đạo, công việc của anh ta là thiết kế một tương lai chung cho tất cả mọi người, thuyết phục được mọi người tin tưởng vào tương lai đó, và cuối cùng là tìm mọi cách để hiện thực hóa tương lai đó. Anh ta được ban trao quyền lực, và rộng hơn là ban trao sự lãnh đạo, để thực hiện công việc thiết kế tương lai và hiện thực hóa tương lai này. Thiết kế tương lai chung, trước hết dưới dạng các viễn cảnh được mô tả rõ ràng và thuyết phục, và sau đó là tìm mọi cách để hiện thực hóa tương lai đó, là công việc chủ chốt của nhà lãnh đạo.
Nhưng với nhà cầm quyền, vì quyền lực và vị trí của họ không đến thông qua sự ban trao tự nguyện của người dân, công việc của nhà cầm quyền sẽ chỉ tập trung vào việc giữ cho bằng được quyền lực và vị trí của mình. Họ sẽ tìm mọi cách hợp thức hóa việc nắm giữ quyền lực và vị trí này, thông qua mọi phương tiện, không chỉ tuyên truyền mà còn cả đe dọa và đàn áp.
Ngay cả khi nhà cầm quyền chủ ý thiết kế và hiện thực hóa một tương lai nào đó, thì tương lai này vẫn sẽ bị giới hạn bởi điều kiện tiên quyết là không ảnh hưởng đến quyền lực và vị trí anh ta đang nắm giữ. Vì thế, tương lai đó không bao giờ là tương lai tốt nhất có thể có, và chỉ có thể đáp ứng được mối quan tâm của một nhóm người có lợi ích liên quan, chứ không phải của tất cả mọi người, trừ phi nhà cầm quyền tự chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo.
Miền thời gian lưu trú
Điểm khác biệt thứ ba là miền thời gian mà nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền đến sống và làm việc ở trong đó. Với nhà lãnh đạo, miền thời gian mà họ sống và làm việc là tương lai của chính dân tộc họ, và họ phải là hiện thân của chính tương lai đó. Vì thế, họ phải là người có tầm nhìn, phải có khả năng nhìn thấy tương lai, từ đó thiết kế ra một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người và tạo động lực để tất cả mọi người cùng hiện thực hóa tương lai đó. Nhà lãnh đạo tìm thấy bản thân mình và tính chính danh trong công việc của mình ở trong tương lai. Nhưng tương lai bao giờ cũng bất định, vì lẽ đó, nhà lãnh đạo đòi hỏi không chỉ giỏi về chuyên môn, mà quan trọng trước hết là bản lĩnh dám đối mặt với sự thay đổi, dám ra những quyết sách lớn và dám chịu trách nhiệm với những quyết sách lớn đó. Nhưng các nội dung này lại phải đặt trong bối cảnh của sự ban trao quyền lãnh đạo từ phía người dân, nên nhà lãnh đạo trước hết phải có đạo đức để tạo ra sự tin tưởng, và khả năng tập hợp người tài để sau khi đã thiết kế ra một tương lai chung, thì còn phải hiện thực hóa tương lai đó.
Còn nhà cầm quyền thì ngược lại, họ sẽ thường trú ngụ trong quá khứ, vì chỉ trong quá khứ, nơi các sự kiện đã xảy ra, họ mới tìm ra được các lý do để biện minh cho sự tồn tại của mình ở trong hiện tại, theo nghĩa hiện tại là sự nối dài của quá khứ. Còn trong tương lai, các sự kiện chưa xảy ra, nên dù có muốn, họ cũng không thể sử dụng. Vì thế, nhà cầm quyền sẽ không cần bản lĩnh đương đầu với một tương lai bất định, mà chỉ cần nhiều mưu mô để bày binh bố trận, sắp xếp quá khứ và hiện tại sao cho có lợi nhất cho mình. Nhà cầm quyền cũng sẽ không cần người tài để hiện thực hóa một tương lai đã được thiết kế, mà cần trước hết các bè phái hoặc nhóm lợi ích thân tín để bảo vệ lẫn nhau và duy trì quyền lực cũng như vị trí hiện thời.
Trong nhiều trường hợp, nếu nhà cầm quyền cũng quan tâm đến tương lai và thiết kế ra một tương lai mới, thì phải xét xem tương lai đó đáp ứng được lợi ích chính của nhóm đối tượng nào. Nếu tương lai đó chỉ phục vụ cho lợi ích của một nhóm, nhưng nhân danh cả dân tộc, thì đó là một thủ thuật của nhà cầm quyền, còn nếu tương lai đó đáp ứng lợi ích chung của toàn dân, thì trong trường hợp đó, nhà cầm quyền đã tự chuyển hóa thành nhà lãnh đạo.
Như vậy có thể thấy, nhà lãnh đạo là người sống trong vùng thời gian từ hiện tại đến tương lai, còn nhà cầm quyền sẽ sống trong vùng thời gian từ hiện tại đến quá khứ. Vậy nên, khi nghe các ứng viên thuyết trình, nếu họ nói về tương lai và về chương trình hành động để hiện thực hóa tương lai đó, và thuyết phục người dân tin tưởng vào tương lai đó và đồng lòng hiện thực hóa nó, ta biết đó là nhà lãnh đạo. Còn nếu ứng viên nói về quá khứ, và dùng quá khứ như một sự đảm bảo cho tính chính đáng của mình, thì ta biết đó là nhà cầm quyền.
Một cách logic, chỉ người sống trong tương lai mới có thể đưa toàn dân đi đến tương lai. Sự phát triển đột phá sẽ chỉ xảy đến trong trường hợp này. Còn người sống trong quá khứ, sẽ muốn toàn dân trú ngụ ở trong quá khứ, đặc biệt là quá khứ có chút hào quang. Tuy nhiên, thời gian không ngừng trôi, tương lai không thể tránh, nên tương lai trong trường hợp của nhà cầm quyền sẽ là chỉ đơn thuần là sự mở rộng của quá khứ. Nó chỉ đơn thuần là sự tịnh tiến trong thời gian của quá khứ. Mọi sự đều có thể đoán biết trước mà không có sự phát triển đột phá nào có thể đến. Đó chính là lý do vì sao các thể chế phong kiến có thể kéo dài hàng nghìn năm mà sự phát triển cứ như giậm chân tại chỗ. Vì họ chỉ sống trong quá khứ, luôn lấy quá khứ làm chuẩn mực, nên không vượt qua được quá khứ của mình. Mà đã không vượt qua được quá khứ của mình thì thời gian trôi họ cũng sẽ chỉ giậm chân tại chỗ mà thôi.
Nếu giậm chân tại chỗ có thể là mục đích của nhà cầm quyền, thì đó là điều không nhà lãnh đạo nào mong muốn. Vì khi để dân tộc giậm châm tại chỗ, trong khi các dân tộc khác vẫn không ngừng mải miết tiến lên, nhà lãnh đạo đã không hoàn thành sứ mệnh của mình, vì thế sự lãnh đạo mà họ đã được ban trao sẽ bị nhân dân lấy lại. Còn nhà cầm quyền thường tìm cách kiểm soát xã hội để ngăn chặn nguy cơ này, nên họ có thể hài lòng với trạng thái giậm chân tại chỗ này, miễn sao quyền lực và vị trí của mình được đảm bảo.
Hệ thống chính trị hướng đến
Điểm khác biệt thứ tư là khác biệt ở hệ thống chính trị nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền xây dựng lên.
Để thực hiện được công việc lãnh đạo của mình, một trong những nền tảng bắt buộc nhà lãnh đạo phải có, đó là sự chính trực vẹn toàn trong công việc và lời nói của mình.
Lý tưởng của nhà lãnh đạo, ước mơ hay khát vọng của họ, không ai có thể truy nhập trực tiếp được. Nhưng người dân sẽ biết được gián tiếp những điều đó thông qua lời nói và việc làm của nhà lãnh đạo. Và quan trọng hơn, người dân có thể giám sát được những điều đó, để từ đó tin tưởng và ban trao sự lãnh đạo. Chỉ khi được ban trao sự lãnh đạo, trong tin tưởng và tự nguyện, thì nhà lãnh đạo mới có thể hành xử công việc lãnh đạo của mình. Và cũng chỉ khi đó, các dự án lãnh đạo mới có thể thành việc.
Sự chính trực vẹn toàn này sẽ không chỉ dừng ở trong lời nói và việc làm của nhà lãnh đạo, mà phải được mở rộng ra cả hệ thống mà người đó thiết kế và vận hành, và thể hiện ra thành sự minh bạch. Một hệ thống chính trực là một hệ thống minh bạch. Chính vì vậy, nhà lãnh đạo bao giờ cũng hướng đến việc xây dựng một hệ thống minh bạch, còn nhà cầm quyền thì không. Vì với nhà cầm quyền, quyền lực đến được không qua sự ban trao, mà qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt. Vì thế, nhà cầm quyền sẽ không quan tâm đến sự tin tưởng của người dân, mà tập trung vào tuân thủ và đàn áp.
Để công việc lãnh đạo được thành công, nhà lãnh đạo bắt buộc phải thuyết phục được toàn dân tham gia, và huy động được mọi nguồn lực của người dân, để hiện thực hóa các dự án lãnh đạo của mình, hay rộng hơn là toàn bộ tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra. Để làm được điều này, yêu cầu tiên quyết là toàn dân phải có cơ hội được tham gia ngay từ những khâu đầu tiên, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện của mình.
Muốn vậy, nhà lãnh đạo phải có thêm một nền tảng cốt yếu khác, là bao dung hội hợp. Chỉ khi có được sự bao dung hội hợp thì nhà lãnh đạo mới có thể thu hút được đủ người tài, và có được đủ sự ủng hộ của toàn dân để hiện thực hóa các chương trình lãnh đạo của mình.
Với hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Việt Nam, khi chiến tranh xảy ra liên miên, chia cắt lòng người còn nặng nề, thì bao dung hội hợp lại càng trở nên quan trọng trong sự phát triển của đất nước.
Sự bao dung hội hợp này, cũng tương tự như chính trực vẹn toàn, phải được mở rộng ra cả hệ thống chính trị mà nhà lãnh đạo xây dựng lên.
Vậy đâu là một hệ thống có khả năng bao dung hội hợp với mọi người dân? Rõ ràng, đó chỉ có thể là một hệ thống dân chủ. Vì hệ thống dân chủ cho phép mọi người dân đều có cơ hội được tham gia và đóng góp, được bày tỏ chính kiến của mình trong việc phát triển đất nước. Còn một hệ thống độc tài sẽ không có khả năng làm được việc này.
Và trở lại cách thức đạt được quyền lực rằng, nhà lãnh đạo sẽ đạt được quyền lực thông qua sự ban trao, mà cụ thể là một cuộc bầu cử dân chủ và minh bạch, còn nhà cầm quyền sẽ đạt được quyền lực thông qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt, sẽ thấy rằng nhà lãnh đạo sẽ hướng đến việc xây dựng một hệ thống chính trị dân chủ, không chỉ vì một hệ thống như vậy sẽ mang lại tính chính danh cho quyền lực và vị trí mà họ đang nắm giữ, mà nó còn là một công cụ đắc lực để họ huy động mọi người lực trong việc hiện thực hóa các chương trình lãnh đọa của mình. Còn nhà cầm quyền sẽ lảng tránh việc này, vì nó đe dọa trực tiếp đến quyền lực và vị trí mà họ đang có được thông qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt.
Vậy nên, nhìn vào hệ thống chính trị đang được xây dựng, có thể biết được đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền.
Sứ mệnh cá nhân
Điểm khác biệt thứ năm là sứ mệnh cá nhân mà nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền tự đặt ra cho mình.
Nhà lãnh đạo, xuất phát từ cách thức đạt được quyền lực và bản chất công việc của mình, thường tự đặt ra một sứ mệnh cá nhân lớn lơn mối quan tâm của bản thân, gia đình hoặc phe nhóm mình, tức gắn liền sứ mệnh cá nhân của mình với tương lai của cộng đồng mình dẫn dắt. Vì sao vậy? Vì chỉ thông qua cách đó, nhà lãnh đạo mới có được sự tin tưởng và ban trao sứ mệnh lạo của người dân. Và cũng chỉ bằng cách đó, nhà lãnh đạo mới có thể thuyết phục người dân tin vào tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra, và cùng hợp tác với nhà lãnh đạo để hiện thực hóa tương lai đó. Nếu sứ mệnh của nhà lãnh đạo chỉ đơn thuần là để vinh thân phì gia, hoặc chỉ nhằm mang lại lợi ích cho phe nhóm mình, thì không có cách nào thuyết phục được người dân tin tưởng để ban trao sự lãnh đạo. Đó là lý do vì sao trong các cuộc bầu cử dân chủ, nhà lãnh đạo tương lai luôn phải truyền thông và trình bày về chương trình hành động của mình, để thông qua đó người dân thấy và đánh giá được tương lai mà nhà lãnh đạo dự kiến sẽ tạo ra có đáng thuyết phục, sứ mệnh của nhà lãnh đạo có gắn với mệnh vận mệnh của dân tộc hay không. Chính vì lẽ đó, một nhà lãnh đạo đích thực luôn mang trong mình một sứ mệnh cá nhân lớn lao, và luốn hướng đến việc trở thành và hành động bởi những điều lớn hơn bản thân, gia đình hay phe nhóm của mình.
Nhà cầm quyền thì ngược lại. Do cách thức đạt được quyền lực thông qua kế truyền, sắp xếp hoặc chiếm đoạt, và bản chất của công việc cầm quyền là tìm mọi cách để hợp thức hóa và duy trì quyền lực đã có, sứ mệnh của nhà cầm quyền thường chỉ giới hạn trong việc duy trì và trục lợi từ quyền lực đang có, cho cá nhân, gia đình hoặc phe nhóm của mình. Nhà cầm quyền không quan tâm đến việc mình có được người dân tin tưởng ban trao cho sự lãnh đạo hay không, nên không có động lực đặt ra những sứ mệnh cá nhân lớn hơn bản thân mình, và xông pha gánh vác những công việc khó khăn liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc. Trong hầu hết các trường hợp, nhà cầm quyền sẵn sàng hy sinh lợi ích của dân tộc để đánh đổi lấy lợi ích cá nhân. Lịch sử khắp nơi đã cho thấy, nhiều nhà cầm quyền sẵn sàng đánh đổi chủ quyền hoặc đẩy dân tộc đến bước tồn vong chỉ để duy trì sự cầm quyền hoặc bảo vệ lợi ích của cá nhân mình. Thậm chí, họ sẵn sàng mua bán đổi trác lợi ích của dân tộc chỉ để thỏa mãn hưởng thụ cá nhân, nhiều khi chỉ tính bằng một vài cuộc ăn chơi trác táng. Đó là lý do vì sao ở những nước dân chủ, đạo đức cá nhân hay cách thức sử dụng tài sản công lại là vấn đề quan trọng và nhạy cảm với nhà lãnh đạo. Nhiều người đã phải từ chức vì những vụ việc cá nhân cỏn con như vậy. Nhưng dưới con mắt của người dân thì vấn đề không hề cỏn con chút nào, bởi qua đó, người dân sẽ nhận ra sứ mệnh trong công việc mà anh đang thực thi, và nhận diện ra anh là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. Nếu đó là nhà cầm quyền, người dân sẽ thu hồi lại sự lãnh đạo mà họ đã ban trao, trước hết thông qua công luận, sau là qua các thủ tục pháp lý nếu cần, vì thế nhà lãnh đạo không còn cách nào khác là phải từ chức.
Tâm thế hành xử
Điểm khác biệt thứ sáu là khác biệt trong tâm thế hành xử của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền. Xuất phát từ cách thức đạt được quyền lực, và bản chất của công việc lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau, nên tâm thế hành xử của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền cũng khác nhau. Nếu như nhà lãnh đạo dám nhìn thẳng vào hiện tại, đối mặt với hiện tại theo cách nó đúng là như vậy, để từ đó tìm ra sự thật và các cơ hội, các điều kiện tốt nhất để hiện thực hóa tương lai mà họ thiết kế ra, thì nhà cầm quyền sẽ thường nhìn hiện tại qua lăng kính bảo vệ quyền lực, vì thế thường thấy hiện tại như một sự đe dọa, do đó thường chỉ nhìn ra các thế lực thù địch, nguy cơ và sự bất an. Vì lẽ đó, nếu nhà lãnh đạo luôn là người có tâm thế chủ động khi đối mặt với hiện tại, theo nghĩa luôn chủ động tìm ra sự thật và kết nối các sự thật, tổ chức các nguồn lực hiện có của hiện tại để hiện thực hóa tương lai mà họ đã thiết kế ra, thì nhà cầm quyền sẽ luôn ở trong tâm thế bị động trước hiện tại, khi luôn coi hiện tại là một mối đe dọa cần xử lý, thậm chí ngay cả khi anh ta chủ động xử lý hiện tại như xử lý một mối đe dọa thì trên thực tế đó vẫn là một sự bị động vì hiện tại đang diễn biến theo hướng buộc anh ta phải làm như vậy.
Chính vì thế, nhìn phong thái hành xử của những người đứng đầu của tổ chức, và rộng hơn là của đất nước, trước những diễn biến của hiện tại, chúng ta sẽ biết được đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền.
Hiển nhiên, một người chủ động là một người có khả năng tạo ra sự thay đổi và làm chủ sự thay đổi đó. Đó là một người có quyền lực thực sự. Còn một người bị động thì muốn hay không anh ta vẫn chỉ là nạn nhân của sự thay đổi. Đó là một người không có quyền lực thực sự, dù trên thực tế anh ta có đủ quyền uy và chức vị để hành xử như một người có quyền lực. Điều này cũng dễ hiểu khi ta trở lại cách thức đạt được quyền lực của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền, và thấy rằng, quyền lực thực sự chỉ có được khi nó được ban trao trong sự tin tưởng và tự nguyện, còn quyền uy có thể đạt được thông qua sắp xếp hoặc cưỡng đoạt.
Nói cách khác, nhà lãnh đạo có được quyền lực thông qua sự ban trao, trong tự do và tin tưởng. Còn nhà cầm quyền có được quyền uy thông qua sự sắp xếp và chiếm đoạt, trong mưu mô và đe dọa.
Chuyển hóa cầm quyền – lãnh đạo
Cần lưu ý là có tồn tại sự chuyển hóa qua lại giữa lãnh đạo và cầm quyền. Nếu như trong quá khứ, một người hoặc nhóm người đã từng là nhà lãnh đạo vì họ được người dân tin tưởng trao quyền lãnh đạo, do họ đã tạo ra được một tương lai chung đáp ứng được mối quan tâm của tất cả mọi người, họ thuyết phục mọi người tin theo và bản thân họ là người nỗ lực hiện thực hóa tương lai đó, mà thường gặp nhất là lãnh đạo của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thì rất có thể sau đó khi sứ mệnh ban đầu đã hoàn tất, họ sẽ không còn là nhà lãnh đạo nữa, mà đã chuyển hóa thành nhà cầm quyền khi chỉ tập trung vào việc duy trì quyền lực của mình, và dùng hào quang của quá khứ để hợp thức hóa sự cầm quyền đó, trong khi tương lai mà họ hướng đến chỉ nhằm đáp ứng mối quan tâm của chính họ và một nhóm người có lợi ích liên quan chứ không phải là một tương lai chung đáp ứng mối quan tâm của tất cả mọi người. Trong trường hợp ấy, người đó hoặc nhóm người đó đích thị là một nhà cầm quyền, chứ không phải nhà lãnh đạo.
Ngược lại, một nhà cầm quyền khi chuyển đổi công việc của mình từ việc tìm mọi cách bảo vệ quyền lực và lợi ích của mình hiện thời, sang thiết kế một tương lai chung cho toàn dân tộc, thuyết phục toàn dân tin vào tương lai đó và nỗ lực hiện thực hóa nó thì nhà cầm quyền khi đó đã chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo. Trong nhiều trường hợp, tuy sự chuyển hóa này không đủ rõ ràng về hình thức, và nhà cầm quyền tuy vẫn mang danh là nhà cầm quyền, thậm chí mang danh độc tài, thì về nội dung, người đó đã tự chuyển hóa để trở thành nhà lãnh đạo, vì công việc người đó thực hiện và sứ mệnh mà người đó gánh vác là công việc và sứ mệnh của nhà lãnh đạo, cho dù cách thức đến với công việc và sứ mệnh đó không được chính danh thông qua sự ban trao của người dân. Tuy nhiên, lịch sử sẽ công bằng nhìn ra người đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền, và sẽ ghi nhận đầy đủ những gì mà người đó đóng góp.
Với Việt Nam, câu chuyện về lãnh đạo và cầm quyền là câu chuyện thời sự. Chúng ta đã từng có nhà lãnh đạo, nhưng chưa bao giờ chúng ta thiếu các nhà lãnh đạo như hiện giờ. Nhìn đâu cũng chỉ thấy nhà cầm quyền, ở mọi cấp độ. Câu hỏi đặt ra là: Liệu chúng ta có tiếp tục cần các nhà cầm quyền? Hiển nhiên là không, chúng ta cần các nhà lãnh đạo chứ không cần các nhà cầm quyền. Nhưng bằng cách nào để có được các nhà lãnh đạo, và làm sao để tạo ra một môi trường để cho nhà lãnh đạo xuất hiện và thực hiện công việc của mình?

Câu trả lời xin bỏ ngỏ cho những ai đang suy tư và hành động để thúc đẩy sự phát triển đất nước, và đặc biệt cho những người trong cuộc chuyển giao quyền lực đang diễn ra những ngày đầu năm 2016 này.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015


Blog BS Hồ Hải




MỞ ĐẦU

Hôm 19/9/2015, Quốc hội Nhật Bản đã thông quan dự luật an ninh mới, theo đó, luật này cho phép quân đội Nhật Bản tham chiến ở nước ngoài sau 70 năm chỉ lo an ninh quốc nội. Đây là sự kiện cực kỳ quan trọng ở vành đai Thái Bình Dương kể từ sau chiến tranh thế giới II. Quyết định này sẽ làm thay đổi toàn cục khu vực cho chiến lược các quốc gia lớn nhỏ không chỉ trong khu vực mà cho cả toàn cầu.

LƯỚT QUA

Lịch sử Trung Hoa chưa bao giờ chiến thắng Nhật trong chiến tranh, và chỉ có Nhật xâm lược Trung Hoa, mặc dù, theo dòng lịch sử, những người làm nên Nhật Bản là cựu quan triều đình Trung Hoa bỏ nước ra đi tìm vùng đất mới. Một vùng đất nằm trên vành đai động đất triền miên, khô cằn, nhưng họ đã làm nên một nước Nhật hùng cường nhờ vào văn hóa Hiệp Sĩ Đạo.

Cũng lịch sử chiến tranh, Hoa Kỳ chưa bao giờ thắng Trung Hoa với chiến thuật lấy thịt đè người. Hai lần thất bại ở chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953; và chiến tranh Việt Nam 1963 - 1975, người Mỹ đã thua Trung Hoa, chứ không phải Bắc Hàn thắng Nam Hàn, hay Việt Nam Cộng Hòa thua Việt Nam Cộng Sản.

Sau chiến tranh thế giới II, người Mỹ đã phải phân thân ra 3 khu vực:

1. Vành đai Thái Bình Dương với những đồng minh mới: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Phillipines, Việt Nam Cộng Hòa, nhằm chống lại làn sóng cộng sản lan rộng trên toàn châu Á.

2. Khối NATO để chống lại Liên Xô cũ để ngăn chặn làn sóng cộng sản lan rộng khắp châu Âu.

3. Trung Đông và Bắc Phi cũng không ngoài mục đích sự lan rộng sức mạnh của Liên Xô và nắm yết hầu năng lượng của thế giới.

Một mình cáng đáng cả thế giới, mà phải đối đầu 2 cường quốc cộng sản: Liên Xô và Trung Hoa, buộc lòng người Mỹ phải bắt tay với Trung Hoa năm 1972 qua Thông Cáo Thượng Hải để dồn sức hạ gục Liên Xô, khi mà hữu hảo giữa Liên Xô và Trung Hoa đi đến hồi căng thẳng ở biên giới của 2 nước. Và sau 17 năm, Liên Xô đã thực sự đuối sức với tuyên bố, tùy nghi di tản đối với đàn em cộng sản tại Hội nghị quốc tế cộng sản cuối cùng tại Berlin, Đông Đức vào mùa đông 1989 của ông Gorbachev. Ngày nay, nước Nga - thay thế Liên Xô cũ - đã là một quốc gia có hình thái chính trị đa nguyên, và trở thành con rùa lật ngữa, khi mà ông Putin điều hành nước Nga vẫn đi theo lối mòn cũ - phụ thuộc vào bán tài nguyên để kiếm sống, chứ không phải dựa vào sự sáng tạo của dân.

Đến hôm nay, NATO đang tạm ổn, các quốc gia châu Âu thuộc đồng minh Hoa Kỳ đã đủ lực để đương đầu với Nga. Độc lập năng lượng đã giúp Hoa Kỳ ít bận tâm hơn ở Trung Đông và Bắc Phi. Hoa Kỳ chuyển trục sang Thái Bình Dương sau 40 năm bỏ rơi nó.

Sau 43 năm được nuôi dưỡng, Trung Hoa từ một cường quốc quân sự đã trở thành một cường quốc kinh tế cũng với chiến lược lấy thịt đè người. Mối hiểm họa ấy không chỉ là của nước Mỹ, mà còn là của vành đai Thái Bình Dương và của toàn cầu.

Gọi là hiểm họa Trung Hoa vì với hình thái chính trị đơn nguyên tập quyền phong kiến kiểu mới của Trung Hoa sẽ kéo cả nền văn minh nhân loại trở về thời kỳ man rợ nhất của loài người. Tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều hiểu rõ điều này, khi mà Trung Hoa gần đây đã xâm lược ở biển Nhật Bản và Biển Đông, vì đại dương là mặt tiền của các quốc gia.

CÁC BÊN MUỐN GÌ?

Với Trung Hoa, họ muốn cai quản Thái Bình Dương mà lâu nay Hoa Kỳ là thống soái các đại dương. Đặc biệt, 3 quốc gia mà Trung Hoa muốn làm chư hầu cho mình là: Bắc Hàn, Việt Nam và Nhật Bản, kể cả Phillipines và khối Asean. Đối với Đài Loan, về lâu dài, nếu không có gì thay đổi thì Đài Loan đương nhiên trở thành như Hong Kong sau 1997.

Việt Nam và Bắc Hàn thì đã là sân sau và vùng đệm để Trung Hoa xuất khẩu chiến tranh trong thời chiến, và xuất khẩu lạm phát, rác thải trong thời bình - nhưng với chính sách bế quan tòa cảng, cai trị như thời quân chủ chuyên chế, Bắc Hàn thoát được Trung Hoa xuất khẩu rác và lạm phát, mà còn ăn bám Trung Hoa từ 1953 đến nay. Còn Việt Nam, nhờ vào chính sách cởi trói, đã tạm thời thoát nghèo, nhưng chưa thoát nợ và chưa thoát lạc hậu, vẫn còn lệ thuộc Trung Hoa cả kinh tế lẫn chính trị.

Với Nhật Bản, sau những quấy phá của Trung Hoa ở các hòn đảo có chủ quyền Nhật bản và trên biển Nhật Bản trong vòng 5 năm qua, nó đã là giọt nước tràn ly, mặc dù theo Japan Times thì, Hoa Kỳ không muốn Nhật Bản tham chiến ở nước ngoài, nhằm kiểm soát tình hình ở vành đai Thái Bình Dương.

Nhưng, như lịch sử, Nhật Bản không thể là cái bung sung của Trung Hoa và của cả Hoa Kỳ. Họ đã từng là một đế chế lừng lẫy từ Âu sang Á. Họ đủ khả năng tự lực, tự cường trước Trung Hoa và trước Hoa Kỳ để có thể giành lại thị trường và đồng minh của họ ở bất cứ nơi đâu họ muốn, mặc dù, sau 1990, kinh tế Nhật Bản suy trầm do bão hòa về GDP và dân số lão hóa, chứ không phải họ kém cõi về điều hành đất nước và sáng tạo.

Với Hàn Quốc, sau khi đổi hiến Pháp năm 1987, họ đã chuyển một hình thái chính trị đa nguyên tập quyền quân đội thành đa nguyên tản quyền dân sự. Hàn Quốc đã ghi tên vào 20 cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới chỉ sau 2 thập niên, mặc dù, tài nguyên không có gì, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, dân số và diện tích chỉ bằng một nửa của Việt Nam, và phải chống chọi với người anh em phản trắc Bắc Hàn đang chịu làm chư hầu cho Trung Hoa.

Hàn Quốc không mong muốn gì hơn là thống nhất đất nước để một nửa núm ruột của mình cùng chung sống hòa bình, hùng mạnh độc lập, tự chủ với Trung Hoa, và vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế giới như Nhật Bản xưa nay.

Với Phillipines, một quần đảo nằm tách ra khỏi châu Á lục địa là địa chính trị thuận lợi, song sự yếu kém trong điều hành quốc gia, và thiên tai hằng năm đã làm họ trở nên yếu kém với Trung Hoa. Mấy năm nay, việc Trung Hoa chiếm bãi cạn Scarborough trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Phillipines là điều dễ hiểu, sau khi bà cựu tổng thống Gloria Macapagal Arroyo đã ký sắc lệnh không cho phép Hoa Kỳ thuê căn cứ quân sự Subic, biến nó thành đặc khu kinh tế do Trung Hoa đầu tư, để hôm nay buộc phải mở cửa lại nhằm bảo vệ an ninh quốc gia dưới sự xâm lược của Trung Hoa.

Phillipines muốn tự lực tự cường với sự xâm lăng của Trung Hoa e rằng rất khó, nếu Hoa Kỳ không can dự vào Biển Đông, và giúp đỡ họ.

Với Miến Điện, đây là khúc gân gà thực sự khó nhai đối với Trung Hoa, nhờ vào chiến lược biết nép mình chờ thời cơ, để chuyển đổi nền chính trị quốc gia từ đa nguyên tập quyền quân đội sang đa nguyên tản quyền dân sự như Hàn Quốc đã làm từ 1987. Và từ năm 2011 đến nay Miến Điện đang đi từng bước vững chắc trong đường lối của mình nhờ vào những nhà trí thức cả trong quân đội, và ngoài dân sự - đại diện là tổng thống Thein Sein và Khôi nguyên Nobel Hòa Bình Aung Kyi.

Miến Điện sẽ tự lực tự cường với Trung Hoa chỉ trong vòng 2 thập niên tới là điều chắc chắn, vì họ còn giữ được văn hóa và quốc đạo trong dân chúng, nhưng cũng giống các quốc gia khác có cùng biên giới với Trung Hoa, Miến Điện phải lo sự xung đột sắc tộc do Trung Hoa giật dây ở biên giới phía Bắc với Vân Nam của Trung Hoa.

Với Asean, bằng vào chính sách hối lộ và giá rẻ cạnh tranh trong kinh doanh, các quốc gia trong khối Asean sẽ không dễ cưỡng lại ham muốn của giai cấp cầm quyền khi Trung Hoa dùng tiền để lấy được các hợp đồng đầu tư béo bở, như họ đã từng dùng nó để thắng ởchâu Phi và Nam Mỹ. Ngoài ra, các quốc gia trong khối Asean sẽ khó lòng nhiệt tình can dự và sự xâm lược trên biển Đông của Trung Hoa, nếu họ không có đường biên giới với Trung Hoa và biển Đông.

Với Việt Nam và Đông Dương, Lào luôn hiền hòa như lâu nay, họ sẽ lợi dụng sự xâm lược của Trung Hoa và sự níu kéo của Việt Nam để làm lợi cho quốc gia mình. Nhưng Lào không thể thoát được cảnh đất nước sẽ bị tàn phá tài nguyên thiên nhiên. 

Với Cambodia cũng không thoát khỏi chiến lược như Lào, nhưng Cambodia có một lợi thế địa chính trị hơn Lào và Việt Nam là, không có đường biên giới với Trung Hoa, đây sẽ là việc Cambodia dễ dàng vượt qua Việt Nam và Lào về tự lực tự cường như Thái Lan cùng hình thái chính trị Quân chủ lập hiến hiện nay.

Riêng Việt Nam, với chiều dài lịch sử và quan hệ 2 quốc gia Việt Trung, với địa chính trị vô cùng quan trọng của châu Á, Trung Hoa không bao giờ muốn Việt Nam thoát khỏi sân sau của mình.

Nhưng sau khi 25 năm - 1950 đến 1975 - nhờ sự viện trợ của Trung Hoa trong chiến tranh Việt Nam, rồi bây giờ là 25 năm năm - 1990 đến 2015 - chính quyền hiện nay đã thấy được dã tâm của Trung Hoa. Nhà cầm quyền ở Việt Nam thực sự đã muốn thoát khỏi làm sân sau của Trung Hoa, song vẫn chưa muốn mất đi quyền lợi của mình là được độc quyền tham nhũng, ăn chia, vì cần làm "vừa lòng" Trung Hoa, vừa chống chọi với Trung Hoa.

Cuối cùng là Hoa Kỳ, sau 43 năm nuôi Trung Hoa lớn mạnh, Hoa Kỳ vừa lo xong việc độ lập năng lượng, họ bắt buộc phải làm cho Trung Hoa yếu đi - chứ hô không muốn Trung Hoa sụp đổ. Vì họ có một phần lệ thuộc vào sức mạnh lấy thịt đè người của Trung Hoa - đông dân và thị trường to lớn, giá còn rẻ.

Hoa Kỳ chỉ muốn Trung Hoa yếu đi. Hoa Kỳ chỉ muốn Nhật Bản và Nam Hàn còn lệ thuộc về quốc phòng và quân sự với mình. Hoa Kỳ chỉ muốn Đài Loan là nơi họ còn đe dọa Trung Hoa. Và Hoa Kỳ chỉ muốn Asean nói chung và Việt Nam nói riêng là tiền đồn chống lại Trung Hoa dưới sự giúp đở của Hoa Kỳ, nhằm cai quản Thái Bình Dương đem lại lợi ích cho Hoa Kỳ.

KẾT

Vậy thì, mô hình nào cho nền kinh tế chính trị cho Việt Nam trong 10 năm tới trong bối cảnh của vành đai Thái Bình Dương đang nóng bỏng như hiện nay. Xin hẹn lại bài tiếp theo: Mô hình nào cho tương lai của Việt Nam.

Blog BS Hồ Hải

Thein Sein và Aung Kyi: Đối lập, nhưng không đối kháng.


MỞ ĐẦU

Thoạt nhìn về mặt hiện tượng, người ta thấy Trung Hoa và Hoa Kỳ là 2 quốc gia thù địch, không đội chung trời, nhưng nhìn sâu vào bản chất của vấn đề mới thấy rằng, Hoa Kỳ và Trung Hoa như một cặp vợ chồng đồng sàng dị mộng. Họ đồng sàng vì họ phải sống lệ thuộc vào nhau, khi Hoa Kỳ cần một thị trường rộng lớn chiếm 1/5 dân số toàn cầu, và Trung Hoa cần Hoa Kỳ để xuất khẩu hàng hóa, và ăn cắp tài nguyên trí tuệ loài người phục vụ cho sự phát triển quốc gia. Lịch sử cho thấy, Hoa Kỳ chỉ có thể làm yếu Trung Hoa qua con đường kinh tế chứ không muốn làm Trung Hoa sụp đổ hay gây chiến với Trung Hoa qua 2 lần thất trận. Trung Hoa sẽ yếu là chắc chắn, và đó là cơ hội để Việt Nam hơn là thảm họa.

Cũng thoạt nhìn, người ta thấy Việt Nam đang mắc kẹt giữa 2 cường quốc Hoa Kỳ và Trung Hoa trong chiến lược tranh bá toàn cầu. Nhưng khi nhìn đúng bản chất của Việt Nam hiện nay thì nhà cầm quyền Việt Nam tự lập ra cái bẫy để mình bị mắc kẹt vào đó. Bắt đầu sự mắc kẹt là sự hiển nhiên của lịch sử phải chọn Hồ Chí Minh và con đường của ông, nhưng sau đó, thế hệ sau ông chưa thoát được cái bóng của ông và những món nợ về kinh tế, địa chính trị, tư tưởng, v.v... để đi tìm một con đường mới cho tổ quốc và dân tộc. 

LƯỚT QUA SAI LẦM

Qua trao đổi với các thành viên trẻ ưu tú loại 1% toàn cầu, hằng năm họ tổ chức Model UN để cải tạo thế giới, tôi và họ cùng thống nhất một quan điểm rất đúng về mặt bản chất của vấn đề Việt Nam rằng, Việt Nam đang sai lầm ở kiến trúc thượng tầng. Nó cũng giống như Hoa Kỳ, từ trước khi có bộ giáo dục ra đời năm 1979, thì từ năm 1906 đên 1980, Hoa Kỳ có tới 316 giải Nobel, trung bình mỗi năm có 4 giải. Từ năm 1980 tới nay, chỉ vỏn vẹn 40 giải, mỗi năm một giải, mặc dù Hoa Kỳ vẫn là nước có nhiều giải Nobel nhất thế giới với 356. Có nghĩa là, khi chính trị xen bàn tay lông lá quá sâu và xã hội thì khả năng của con người giảm dần theo phép toán tỷ lệ nghịch.

Cho nên, về chính trị, với mô hình đơn nguyên tập quyền sao y Liên Xô trước 1990, và của Trung Hoa từ sau 1990, Việt Nam đang rơi vào 2 tình thế nan giải của quốc nạn tham nhũng và thiếu hiền tài để xây dựng quốc gia. Trong mô hình này có 2 vấn đề lớn mà nhà cầm quyền Việt Nam cần phải thay đổi:

Một là, kiến trúc thượng tầng phải phá bỏ sự tập quyền độc tài của nhà cầm quyền về mặt chính trị, để có sự kiểm soát quyền lực, nhằm giảm thiểu quốc nạn tham nhũng. Đây mới đúng là duy vật luận đúng nghĩa của quy luật mâu thuẫn và thống nhất các mặt đối lập. Không còn cách nào khác hơn là phải đa nguyên chính trị.

Hai là, mô hình sở hữu công về kinh tế đã giết chết sức dân. Nó làm cho nền kinh tế nước Việt kiệt quệ sau khi đổi hết tài nguyên để làm cơ sở hạ tầng, tương lai sẽ là đi vay, và vay đến khi vỡ nợ thì chính quyền sẽ tự sụp đổ, hoặc tự làm chư hầu của Trung Hoa mà không cần bất cứ một thế lực thù địch nào nhúng tay vào. Hay nói cách khác, về mặt bản chất, thế lực thù địch của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay chính là nhà cầm quyền chứ không ai khác.

HẬU QUẢ

Gần đây, tứ trụ triều đình của nhà cầm quyền Việt Nam đã có những chuyến ngoại giao con thoi cả 2 phía Trung Hoa và Hoa Kỳ cùng đồng minh Hoa Kỳ để cứu một nền kinh tế.

Ban giao hòa hiếu với Trung Hoa là điều phải làm, vì chúng ta không thể di dời địa lý nước ta ra khỏi biên giới Trung Hoa; Nhưng không vì thế mà chúng ta phải nhân nhượng và lép vế.

Ban giao với Hoa Kỳ chủ yếu là để vào TPP. Nhưng, theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành thì nền kinh tế Việt Nam không có gì ngoài của các nhà đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và gia công lắp ráp gia công. Việt Nam muốn xuất khẩu thì Việt Nam phải có hàng để xuất khẩu, Việt Nam không có sản xuất ra được hàng để xuất khẩu. Trong năm 2014, thì các doanh nghiệp FDI chiếm 70% thị phần xuất khẩu. Thế tại sao 200-300 nghìn doanh nghiệp Việt Nam mà chỉ chiếm chưa đầy 30%, trong 30% đó, thì phần lớn là những nguyên liệu tạm nhập tái xuất? Chúng ta thấy rõ ràng cái vấn đề là, phải xây dựng nội lực Việt Nam để doanh nghiệp Việt Nam có công nghệ cao, có ban điều hành tốt, có phương tiện tài chánh, đầu tư, tiếp cận nguồn vốn có lãi suất hợp lý, v.v... Hiện nay dù ta có phá giá đồng tiền cách mấy đi nữa, dù có mở thị trường TPP, dù có FTA, v.v... thì cuối cùng người ta có mở cửa thì chúng ta cũng không vào được, vì chúng ta có hàng đâu mà vào, để bán cho người ta?

Phát biểu của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành được trích dẫn ở trên từ phút thứ 34 trong clip này.

Cái đáng sợ nhất của 2 sai lầm lớn ở trên chính là rường cột văn hóa con người Việt đã bị phá vỡ. Đây là một vòng xoắn bệnh lý của kinh tế chính trị Việt Nam khi nào còn mô hình kiến trúc thượng tầng với 2 sai lầm trên. Một quốc gia mà văn hóa đạo đức bị phá vỡ thì quốc gia ấy không thể ngóc đầu được, thậm chí dân tộc bị đồng hóa và lưu vong trên chính tổ quốc mình.

Khi kinh tế kiệt quệ, ắt chính trị phải đổi. Thế thì đổi chính trị để giải phóng sức dân thì kinh tế cất cánh như Hàn Quốc, hay là sẽ chờ sự sụp đổ của Trung Hoa như Liên Xô năm 1989 để mới thay đổi như các quốc gia Đông Âu? Điều này hầu như rất khó xảy ra, ngoại trừ có chiến tranh khu vực giữa Trung Hoa và các quốc gia.

MÔ HÌNH

Tất cả các con đường điều đến La Mã. Tư tưởng do dân, vì dân và của dân là nòng cốt cho mọi tư tưởng dù đi theo thể chế nào, để nhằm giải phóng sức dân, nhằm tự lực tự cường, và hạn chế tha hóa do độc tài của chính quyền gây ra. Lâu nay, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn nói là chính quyền hiện nay là của dân, do dân và vì dân, nhưng dân không được quyền sở hữu bất kỳ điều gì, ngay cả suy nghĩ của mình.

Việt Nam trong tương lai phải có một nhà nước thực sự được dân yêu, dân nuôi, chứ không phải một nhà cầm quyền chỉ biết ban bố công ơn đến dân, và bắt dân phải gồng mình nuôi nhà cầm quyền như 40 năm qua.

Hoa Kỳ trở thành cường quốc số 1 toàn cầu, hay Nhật Bản, Hàn Quốc tuy diện tích nhỏ, thiếu tài nguyên, đầy hiểm họa thiên nhiên, sống bên bờ biển với Trung Hoa, vẫn cứ hùng cường, mà ngay cả Hoa Kỳ vẫn phải muốn kiềm chế họ quá hùng mạnh, cũng là nhờ vào có một nhà nước sống nhờ dân, một nhà nước đi theo con đường dân giàu nước mạnh. Khi Hàn Quốc bị khủng hoảng kinh tế năm 1997, dân Hàn Quốc không bỏ đất nước ra đi như Trung Hoa vài năm nay, mà dân còn tự quyên góp vàng, tiền để cứu lấy đất nước là cũng từ đây mà ra.

Hãy thử đặt câu hỏi, nếu như nhà nước Trung Hoa và Việt Nam rơi vào tình cảnh như Hàn Quốc năm 1997 thì dân sẽ hành động như thế nào? Khi mà hôm nay Nhân dân Nhật báo Trung Hoa đả kích tỷ phú giàu nhất Trung Hoa là kẻ ăn cháo đá bát, và chỉ trong năm 2011 đã có 18.000 quan tham Trung Hoa ôm 130 tỷ đô la trốn ra nước ngoài. Chưa có thống kê nào ở Việt Nam, là các quan tham và dân đã tuồng đô la ra nước ngoài tìm quê hương mới, nhưng chắc chắn là có, khi mà gần đây trang Chân dung quyền lực đã đưa ra bằng chứng rõ ràng.

Để có mô hình của dân, do dân, và vì dân thì việc đầu tiên phải cần làm sau khi đại hội đảng cầm quyền lần thứ 12 kết thúc là phải sửa ngay hiến pháp 2013 mới sửa đổi chưa ráo mực. Sửa cái gì? Sửa ngay chính 2 sai lầm trên đã chỉ ra. Và một thể chế mới cần phải hình thành để giải phóng sức dân. Thể chế mới này cuối cùng sẽ là đa nguyên tản quyền. Nhưng nó phải qua 2 giai đoạn, với một quy trình thời gian tính bằng vài thập kỷ, vì để thay đổi cả một cộng đồng sai lệch không thể ngày một, ngày hai. Có thể tóm tắt 2 giai đoạn đó như sau:

Giai đoạn 1: Đa nguyên tập quyền chỉ khu trú vào an ninh quốc phòng do đảng cộng sản tiếp tục lãnh đạo, nếu người dân còn tin tưởng, với ứng cử và bầu cử công khai có quốc tế kiểm tra. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm, nhằm để có một bộ luật chỉnh chu cho một thể chế tiếp theo dẫn đến tam quyền phân lập, và để cán bộ và nhân dân tập trở lại lối sống theo hiến pháp và pháp luật mà lâu nay đã bị xé rào. Nhưng trong giai đoạn này quyền lực thứ tư phải được giải phóng và trao cho dân - báo chí truyền thông - nhằm góp phần kiểm soát quyền lực của nhà cầm quyền trong việc tha hóa và tham nhũng.

Giai đoạn 2: Đa nguyên tản quyền với thể chế tam quyền phân lập, và quân đội làm duy chỉ nhiệm vụ bảo vệ quốc gia, cảnh sát chỉ lo nội và ngoại an. Quân đội và cảnh sát chỉ trung thành với dân tộc và tổ quốc, chứ không trung thành với đảng phái hay bất kỳ giai cấp thống trị nào vì mục tiêu chia phần đất nước. Đến giai đoạn này, đòi hỏi hiến pháp và luật pháp cần phải có những tu chính án bổ sung và sửa đổi.

THỰC HIỆN

Khi tôi đọc Dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng 12, thì thấy cái gì đảng cầm quyền ở Việt Nam cũng có nêu ra, cũng muốn nó tốt đẹp, nhưng 2 vấn đề lớn để cho những cái đó thành hiện thực thì hoàn toàn mất dạng.

Công việc thực hiện mô hình để đi đến đích một nước Việt tự lực, tự cường là một quá trình dài nhiều thập kỷ, và rất nhiều việc của nhiều bộ phận cấu thành một chính phủ phải làm, mà 2 bài viết ngắn này chỉ có thể phát thảo khung sườn, nhưng mấu chốt vẫn là một thể chế chính trị huy động lòng dân và sức dân.

Không giải phóng sức dân bằng một nền chính trị đúng quy luật triết học thì chắc chắn nền chính trị Việt Nam hiện nay sẽ hoặc là phải làm chư hầu cho Trung Hoa, hậu quả là dân nghèo, nước yếu; hoặc là nhà cầm quyền tự tay cầm gươm tuẩn tiết là điều không tránh khỏi. 

Để thực hiện tiến trình 2 giai đoạn này nhằm giảm thiểu quốc nạn - ta chính là kẻ thù của ta - và huy động sức dân nhằm đưa đất nước đến chỗ tự lực, tự cường thì, không còn cách nào khác, nhà cầm quyền cần ủng hộ và tạo điều kiện các tổ chức dân sự hoạt động công khai, và thực sự thực hiện nền kinh tế thị trường đúng nghĩa dưới hiến pháp và pháp luật sửa đổi.

Nhà cầm quyền không có gì phải sợ các tổ chức dân sự và giải phóng sức dân khi mà, nhà tù, trường học, bệnh viện, súng đạn và cả nền kinh tế, v.v... đang nằm trong tay của mình. Việc khuyến khích các tổ chức dân sự hình thành và hoạt động công khai, cùng ngồi với nhà cầm quyền để làm việc một cách thực sự cầu thị, không là mối nguy, mà là cơ hội để nhà cầm quyền có được hiền tài thực sự, và huy động sức dân để cứu nền kinh tế, cũng chính là cứu sự sụp đổ của chính nhà cầm quyền tự giết mình, và đưa Việt Nam đến tự lực, tự cường trước hiểm họa Trung Hoa.

Mặc khác, các tổ chức dân sự đã làm việc với Hội đồng An ninh Hoa Kỳ cũng thấy trách nhiệm của mình là, cần đoàn kết, làm ra những dự thảo như một cơ cấu chính phủ, nhằm chuẩn bị cho một Việt Nam hậu cộng sản trong tương lai.

KẾT

Đã đến lúc nhà cầm quyền và người dân - mà đại diện là các tổ chức dân sự - phải dẹp bỏ cái nhìn không thân thiện, mà ngồi lại với nhau xây dựng một Việt Nam tự lực tự cường. Cách đây 5 năm, vào 2010, có lẽ Miến Điện đã từng học hỏi Việt Nam trong cởi trói kinh tế, nhưng hôm nay Việt Nam cần phải học Miến Điện cải cách chính trị để tự tay đảng cầm quyền tháo cái bẫy mà chính mình đã tạo ra.


BÀI CỦA LS ĐINH THẾ HƯNG


Cuối những năm 80 đầu 90 của thế kỷ trước khi Bầu Kiên còn cặm cụi nhặt bạc lẻ, Bầu Đức đang là phó mộc thì Tăng Minh Phụng đã nổi lên là một đại gia. Bởi lẽ Bảy Phụng kinh doanh lĩnh vực dày dép, may mặc và hàng tiêu dùng bằng nhựa. Đánh đúng tâm lý khát hàng tiêu dùng của dân chúng sau thời gian tem phiếu hành hạ và nền kinh tế như con bệnh vừa qua khỏi cơn nguy kịch đang nhúc nhắc ăn giả bữa


Mở rộng quy mô công ty lên tầm Group là tham vọng của ông chủ gốc Tàu. Nhưng cũng giống như bao kẻ làm ăn vấn đề đầu tiên Phụng vấp phải là câu chuyện tiền ở đâu?


Khi cần tiền mần ăn thì ông bạn đầu tiên người ta nghĩa đến là các Bank. Nhưng các Bank hồi đó có thể đếm trên đầu bàn tay. Những ai đến các Bank thủa ấy còn nhớ cảm giác khúm núm như đến cơ quan công quyền chứ không phải doanh nghiệp buôn tiền như bây giờ


Hơn nữa Minh Phụng là doanh nghiệp tư nhân mà tư nhân hồi đó còn đang bị ghẻ lạnh mặc dù Hiến pháp 92 long trọng tuyên bố các thành phần kinh tế bình đẳng. Hơn nữa số tiền Minh Phụng vay quá lớn có thể hơn cả vốn điều lệ của một ngân hàng cỡ 4.000 tỷ đồng. Vay vốn khó như lên giời với quy định không cho váy 10% vốn của tổ chức tín dụng


Bảy Phụng dùng chiêu xé lẻ các khoản vay bằng cách lập nhiều công ty con và thuê người làm giám đốc mục đích chỉ là để ngân hàng cho vay tiền (thế là lừa cmn đảo). Chiêu này sau được` Nguyễn Đức Kiên nâng lên tầm cao mới


Gom cục tiền Bảy Phụng ném tất vào lĩnh vực ở Việt Nam thời đó dân làm ăn nói đến còn run rẩy lưỡi: Bất động sản !


Nhưng bối cảnh lúc đó, luật lá về địa ốc còn hỗn mang như vũ trụ thủa hồng hoang giống như một cái bẫy có thể sập xuống bất cứ lúc nào, khiến Chánh án tối cao lúc ấy phải thốt lên xử kiểu gì cũng được ! Thậm chí chiểu theo luật lúc đó doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là bất hợp pháp


Đúng lúc đó, cơn bão khủng hoảng tài chính quét qua châu Á, đúng lúc đó, thị trương bất động sản dừng lại nghe ngóng chính sách và đóng băng theo chu kỳ


Nợ ngân hàng đến hạn trả trong khi tiền vay ngân hàng đang chết dí ở những đám đất hoang ! Đương nhiên các đồng chí PC 15 vào cuộc theo đúng phận sự vì có dấu hiệu tội phạm!


Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được thành lập và theo Bộ luật hình sự lúc đó bảy Phụng bị bắn nghìn lần mới đúng.


Tại tòa Bảy Phụng khóc mà rằng: Hãy cho tôi dăm năm nữa khi bất động sản hồi phục tôi sẽ trả đủ gốc và lãi không thiếu một xu.


Quan tòa cười khảy, báo chĩ bĩu môi, bằng hữu ngao ngán: số nợ đó 10 đời nhà mày trả chưa hết . Chết đến nơi còn chém gió


Quan tòa đã làm đúng bởi họ chỉ biết tuân theo pháp luật đúng như biểu tượng nữ thần công lý bịt mặt mang thanh kiếm


Như một sự tiên đoán thời gian sau bất động sản nóng rừng rực. Đất hoang trở thành đất vàng. Nhưng năm 2003 Minh Phụng đã bị hành quyết vài năm sau 500 bác ngồi Ba Đình bấm nút bỏ hình phải tử hình với tội Lừa đảo với lý do hoàn thiện thể chế cho phù hợp với kinh tế thị trường .Lúc đó tăng Minh Phụng đã sang cát


Thể chế là thứ vô hình nhưng nó có thể trói buộc hay kìm hãm xã hội đúng quy luật cơ sở hạ tầng và thượng tầng kiến trúc như bạn Mác quả quyết


Thể chế có thể giết chết người thậm chí giết chết cả tinh hoa nếu nó ì ạch
Vi phạm pháp luật, xử đúng pháp luật, nhưng đó là pháp luật nào?


Vụ Minh Phụng xét dưới góc độ nào đó là cú quẫy đạp tuyệt vọng trong cái thể chế kinh tế quá chật chội, ọp ẹp, lỗi thời và bất an buộc người ta phải thừa nhận và hốt hoảng thay đổi !

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Mỗi khi nghĩ tới hai chữ “thành công” không hiểu sao tôi hay hình dung đến hình tượng chiếc máy bay. Lúc máy bay đang chạy trên đường băng để chuẩn bị cất cánh bao giờ cũng là lúc nặng nề và khó khăn nhất nhưng khi đã cất cánh thì dường như có một sự thay đổi đột biến, nó bay vào không trung với một tốc độ hoàn toàn khác hẳn.


Từ hình tượng chiếc máy bay, tôi hay nghĩ đến hai khái niệm mà có lẽ cho đến bây giờ tôi vẫn cứ nghĩ mà vẫn chưa thể phân biệt được rõ ràng, đó là “động lực” và “động cơ”. Tôi viết bài này với hy vọng nhận được những chia sẻ của các bạn vì tôi tin rằng nhiều cái đầu vẫn hơn là một cái đầu. Theo các bạn “động lực” và “động cơ” là gì và chúng có vai trò thế nào trong đời sống?

Tôi thì tôi cứ nghĩ nôm na thế này, động cơ là bộ phận quan trọng nhất trong một bộ máy giúp cho bộ máy đó chuyển động còn động lực chính là nhiên liệu giúp cho động cơ vận hành. Áp dụng phép ẩn dụ này vào đời sống, chúng ta nhận ra điều gì?

Bạn có nghĩ vì sao bạn phải dậy mỗi sáng để đến sở làm hay không? Lý do bạn phải đến sở làm là hàng tháng bạn cần có một số tiền để tiêu vào một việc gì đó. Đó chính là động cơ, còn việc sử dụng đồng tiền vào “một việc gì đó” chính là động lực. Thông thường một điều gì đó đã được thỏa mãn thì con người không còn thích thú với nó nữa, nếu có tiếp tục làm mà không có hứng thú thì có nghĩa là hết động lực. Khi bạn có ít động lực thì động cơ sẽ hoạt động không tốt và “máy bay” sẽ gặp trục trặc mà thôi.

Như vậy đằng sau lý do bạn đi làm quan trọng hơn lý do bạn đi làm. Nếu việc bạn làm một việc gì đó là những mục đích lớn lao, nhiều thử thách và để khẳng định mình hoặc thỏa mãn niềm đam mê của mình chẳng hạn sẽ tạo cho bạn động lực không ngừng nghỉ và nhờ đó giúp bạn luôn làm việc một cách sáng tạo và hiệu quả.

Một trong những công việc quan trọng nhất của nhà lãnh đạo là duy trì được động lực phát triển của tổ chức mà ở đó tập hợp và phát huy được sức mạnh của các cá nhân hay nói cách khác là giúp cho mỗi cá nhân trong tổ chức của mình tìm ra được giá trị và tiềm năng tốt nhất của mình qua đó họ làm việc với một niềm đam mê không ngừng nghỉ thì chắc chắn tổ chức sẽ luôn phát triển bền vững. Ngược lại nếu tổ chức mà họ điều hành không có động lực thì điều đó coi như báo hiệu “ngày cáo chung” mà thôi.
 
Một trong những khái niệm mà tôi thường hay suy nghĩ nhiều nhất đó là từ “doanh nhân”. Theo bạn “Doanh nhân là gì?”, có rất nhiều định nghĩa về doanh nhân, ở đây tôi không muốn đưa ra định nghĩa của riêng mình, nhưng tôi hay suy nghĩ thế nào là doanh nhân đích thực và thế nào là doanh nhân giả tạo? Theo tôi, bản chất của doanh nhân là bạn bỏ ra một số nguồn lực nào đó để kinh doanh và chấp nhận rủi ro để theo đuổi lợi nhuận. Chính vì vậy phần thưởng của bạn chính là “chấp nhận rủi ro”, từ đó tôi nghĩ rằng “doanh nhân đích thực phải là người đam mê rủi ro” còn “doanh nhân giả tạo là những người kinh doanh mà ngoài lý do trên”.

Có rất nhiều người tham gia khởi sự mở doanh nghiệp vì rất nhiều lý do: chẳng hạn như khi đi làm thuê thì bị mất việc, ghét ông chủ, có mối khách hàng lớn, có ý tưởng kinh doanh…thế là họ hăm hở đăng ký kinh doanh, thuê địa điểm, vay vốn, thuê người và điều hành doanh nghiệp. Có rất nhiều người thành công cả về tiền bạc và danh tiếng, ở đây tôi không bàn về khía cạnh này nhưng nếu bạn chỉ có những lý do như vậy, tôi vẫn cứ cho rằng đó là “những doanh nhân giả tạo”. Và có lẽ theo cách nhìn này thì tôi thấy hầu hết đều là những “doanh nhân giả tạo”. Những doanh nhân giả tạo chỉ mới có động cơ tức là theo đuổi cơ hội chứ không có động lực.

Vậy thì thế nào là doanh nhân đích thực? “Đó là những người đam mê sự không chắc chắn”, chính điều đó thôi thúc bạn làm một điều gì đó, bạn hứng thú gây dựng cơ đồ, thay đổi kế hoạch, vượt qua mọi trở ngại, thất bại và quyết tâm theo đuổi một con đường của mình. “Sự đam mê rủi ro” chính là động lực chứ không phải động cơ, nó thôi thúc bạn khám phá không ngừng sự diệu kỳ trong kình doanh mà ở đó đồng tiền chỉ là phương tiện hay thước đo cho hiệu quả của bạn mà thôi. Chính sự đam mê có vẻ bất thường này là động lực thúc đẩy cho động cơ “máy bay” của bạn vận hành không ngừng nghỉ và không có kết thúc, ngược lại những doanh nhân giả tạo thì khi động cơ đã được thỏa mãn thì ngay lập tức họ không còn hứng thú với việc kinh doanh nữa nếu có theo đuổi cũng chỉ cơ hội mà thôi.

Thực tế là có những “doanh nhân giả tạo” lại rất giàu có và thành đạt và “những doanh nhân đích thực” lại đang phải vật lộn với cuộc sống, tuy nhiên mẫu số chung ở đây là ở chỗ bạn có phải là người “đam mê sự không chắc chắn” hay không mà thôi. Tôi thấy có rất nhiều người giàu có, họ bắt đầu một công việc mà chẳng có sứ mệnh tầm nhìn nào hết, họ có bản năng làm giàu, có lẽ họ có “máu” đam mê rủi ro”, có cái gì đó dẫn dắt họ đi theo.Những người này vừa có động cơ vừa có động lực. Nhưng cũng có nhiều người giàu có, họ kinh doanh đơn giản vì có những động cơ nào đó nhưng lại không xuất phát từ “máu kinh doanh”, tôi cho rằng họ chỉ có động cơ mà không có động lực.

Nếu áp dụng điều này trong các mối quan hệ như tình yêu chẳng hạn, lý do bạn yêu một người nào đó như vì tiền, người đó xinh đẹp, giàu có, có cơ hội thăng tiến, công ăn việc làm hay  như để cho thiên hạ “trầm trồ”…là những động cơ. Những lý do này sẽ không có cơ sở bền vững vì nó không phải là động lực. Nhưng nếu bạn yêu một ai đó là vì một tình cảm cao đẹp, vô tư hay sự tương hợp về mục đích sống, cùng chung giá trị, niềm tin và có thể cùng nhau vượt qua bất cứ trở ngại nào của đường đời thì đó chính là động lực chứ không phải động cơ.

Từ những lập luận và ví dụ trên tôi cho rằng cả động cơ và động lực đều hết sức quan trọng nhưng động lực quan trọng hơn, nó có tính bền vững hơn, là yếu tố “gốc rễ”, bản chất. Chính vì vậy chúng ta cần phân biệt thật rõ sự khác biệt giữa động lực và động cơ. Động lực thường xuất phát từ nội tâm và mang tính bền vững và dài hạn, động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời và bề nổi.

Tôi biết những gì tôi đưa ra ở đây có cái gì đó chưa chắc chắn và sẽ có rất nhiều người phản đối cách nhìn của tôi. Tôi hy vọng sẽ đón nhận được những quan điểm đa chiều của các bạn về vấn đề này.

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014







Nguyễn Cảnh Bình


Lợn, gà, 400 triệu, 5 triệu và tấm bằng đại học...

Trong chuyến đi thăm các bạn lợn hôm qua ở Hưng Yên, có chuyện thế này kể cho mọi người.

Mấy anh chị chủ trang trại, chủ hộ đó có từ 10-20 năm kinh nghiệm, lăn lộn, vất vả để tạo dựng cơ ngơi. Người nhỏ thì có 100 nái và 3000m2 đất, gồm chuồng trại, người nhiều thì vài hecta. Thu nhập ít thì 100 triệu/tháng, nhiều thì k biết thế nào, có thể vài trăm triệu. Nhưng dĩ nhiên, k phải lúc nào cũng vậy, có giai đoạn gà lợn chết vì dịch, hoặc trứng giá thấp (hiện nay 1750đ/quả thì với họ là OK, có lúc cao thì 2.100 đ/quả thì lãi nhiều, tới 400-600đ/quả, nhưng cũng có lúc chỉ bán được 1.400 đ/quả thì lỗ khoảng 200 đồng gì đó..


Nhưng họ có điều buồn là con cái k ai muốn làm như bố mẹ cả. Tất cả con cái họ đều học đại học ở Hà Nội nhưng không đứa nào muốn về về, chúng đều xấu hổ nếu phải mang tiếng là học đại học mà đi nuôi lợn, ngay cả mấy đồng chí bác sĩ thú y đi cùng tôi trước đây cũng có suy nghĩ đó. Làm cho công ty, cho công sở, và cho nhà nước oai, oách và sang trọng hơn nhiều... Một anh bảo định chạy cho con về làm chân long tong ở cơ quan X mất 400 triệu mà lương chỉ có 4-5 triệu/tháng, còn một anh thì tân tiến hơn, nói là con gái nói chạy về cơ quan Y mất 200 triệu nhưng bố k đồng ý, k muốn chi tiền cho con về chỗ đó n bảo nó về quê thì k chịu về..

Có lẽ đó là tâm lý chung của 99,99% các bạn trẻ có hoàn cảnh như vậy, và cũng là tâm lý, là trào lưu, là định kiến...của hầu hết mọi người. Tôi thì luôn thấy cơ hội, và triển vọng cho họ nếu họ về quê, chăm chỉ và chịu khó làm theo bố mẹ, để rồi dựa vào những gì họ biết, họ học, họ nhìn ngó...họ sẽ phát triển những trang trại đó trở nên khang trang hơn, khoa học hơn, sạch sẽ hơn, đẹp đẽ hơn, hiệu quả hơn, rồi có thể tạo dựng thương hiệu cho trang trại của mình và rồi cho chính nghề chủ trang trại.

Thật buồn cho đám trẻ không muốn thành ông chủ, bà chủ nuôi lợn, nuôi gà, mà chỉ muốn tự biến mình thành con lợn, con gà dán trên mông nhãn hiệu "lợn thành phố"...