Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Tay phải bỏ qua tay trái

Từ những thông tin rải rác ở các báo, có thể hình dung quy trình giải quyết nợ xấu đang được bàn luận sẽ như thế này. Các ngân hàng thương mại hiện đang ôm một đống nợ xấu. Nay Ngân hàng Nhà nước thành lập một công ty mua bán nợ xấu, tạm gọi là VAMC. Ngân hàng chuyển giao cục nợ xấu theo giá trị sổ sách cho VAMC. VAMC thanh toán bằng một loại trái phiếu đặc biệt. Ngân hàng đem trái phiếu này ra NHNN chiết khấu lấy tiền về kinh doanh tiếp. Vậy là khơi thông được một hòn đá tảng là gánh nặng nợ xấu cho hệ thống ngân hàng?
Sự đời không đơn giản như vậy. Chúng ta sẽ lần lượt xem những thành tố trong quy trình này có tác dụng thật sự hay không trong thực tế.

Mua nợ xấu theo giá nào? 

Nợ xấu của ngân hàng có đủ loại, khả năng thu hồi khác nhau, thời hạn khác nhau, giá trị thế chấp, khả năng thanh lý vật thế chấp cũng khác nhau. Vì sao VAMC lại mua nợ xấu từ ngân hàng thành một cục, cứ theo giá trị sổ sách? Bình thường công ty mua bán nợ sẽ điều đình với ngân hàng, chẳng hạn, nợ quá xấu sẽ mua bằng 10%-20% giá trị, nợ xấu vừa vừa hai bên thương lượng mua bằng 40%-50% giá trị. Khâu định giá như thế là rất quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của VAMC trong tương lai.

Vì sao VAMC trả bằng trái phiếu? 

Nếu VAMC trả tiền mua nợ xấu theo giá sổ sách bằng trái phiếu bình thường thì hóa ra nợ xấu ngân hàng bây giờ chuyển thành nợ xấu cho VAMC. Vì thế, theo các báo, trái phiếu VAMC sẽ rất đặc biệt, lãi suất cực thấp, có thể bằng không, kỳ hạn 5 năm nhưng sau 5 năm thì giá trị coi như không còn gì vì tự động mất hết giá trị. Mục đích của việc sinh ra một loại trái phiếu kỳ lạ như thế ắt là để cục nợ xấu vẫn là trách nhiệm của ngân hàng.
Trước mắt, sau khi chuyển nợ cho VAMC, sổ sách của ngân hàng sẽ sạch sẽ hơn, ngân hàng có thể từ từ giải quyết nợ xấu trong vòng 5 năm, mỗi năm một ít.
Nhưng cũng từ đó, có thể thấy ngay đề án xử lý nợ xấu thực chất là trì hoãn mọi chuyện thêm 5 năm nữa với hy vọng tình hình kinh tế khá lên, con nợ trả được nợ, còn nếu không lúc đó sẽ có đề án khác chăng? Đây chẳng qua là cách kéo giãn thời gian các ngân hàng phải ghi nhận thua lỗ do nợ xấu.

NHNN chiết khấu trái phiếu VAMC như thế nào? 

Khi ngân hàng đem trái phiếu VAMC lên NHNN để chiết khấu, có lẽ tỷ lệ nhận được sẽ chỉ còn dưới 50% hay thấp hơn. Tỷ lệ này phản ánh khả năng thu hồi nợ sau này. Nhưng dù tỷ lệ có thấp thì rõ ràng NHNN cũng sẽ phải bỏ ra một khoản tiền không nhỏ. Số tiền này ảnh hưởng như thế nào đến cung tiền hằng năm, chưa thấy phân tích. Bởi VAMC cùng các ngân hàng xử lý nợ xấu nên về nguyên tắc, xử lý được bao nhiêu, VAMC hưởng một phần hoa hồng, phần còn lại chuyển trả cho trái phiếu đặc biệt kia (tức trả cho khoản vay chiết khấu) theo dạng trích lập mỗi năm chừng 20% giá trị. Lãi suất trên khoản tiền này là lãi suất chiết khấu nên ắt sẽ thấp – vì sao ngân hàng được ưu đãi này trong khi nợ xấu là trách nhiệm của họ. Quan trọng hơn, nếu ngân hàng không xử lý được nợ xấu, thì khoản vay chiết khấu tại NHNN sẽ được trả như thế nào? Đây là một rủi ro khá lớn sẽ hiển hiện trong 5 năm nữa.

Vì sao nói tay này bỏ sang tay kia? 

Đánh giá đề án xử lý nợ xấu, các chuyên gia tài chính – ngân hàng nhận định đây chỉ là những thủ thuật kế toán để tạm thời đưa nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Thực chất NHNN vẫn phải rót tiền cho các ngân hàng mà các ngân hàng không phải trả giá gì nhiều. Lẽ ra, theo các chuyên gia này, NHNN rót tiền và yêu cầu chủ sở hữu các ngân hàng phải giảm tỷ lệ sở hữu tương ứng, số cổ phần này chuyển giao cho NHNN sở hữu. Chủ các ngân hàng từng cho vay bất chấp rủi ro thì nay phải gánh phần trách nhiệm chính, dù có thể phải chịu mất hết vốn.
TS Lê Hồng Giang, giám đốc quản lý một danh mục đầu tư ở Úc, nhận xét: “Một loại trái phiếu không trả lãi lẫn gốc thì trên thực tế chỉ là một "thư giới thiệu" của VAMC cho ngân hàng cầm đến NHNN vay nợ. Ngân hàng chấp nhận chuyển tất cả nợ xấu sang VAMC để có được những bức thư giới thiệu này với hi vọng có tiền chiết khấu từ NHNN trong 5 năm thì họ có thể sẽ làm ăn có lãi và trả được khoản nợ cho NHNN, khoản nợ này thực ra là nợ không thế chấp. Nếu ngân hàng vẫn tiếp tục khó khăn và không trả được nợ coi như NHNN sẽ mất khoản cho vay đó”.
Giảng viên Đỗ Thiên Anh Tuấn của chương trình giảng dạy Fulbright đưa ra gợi ý: “Mấu chốt ở đây là, thay vì giá trị đáo hạn trái phiếu bằng 0 thì giá trị này cần phải dựa vào giá trị và xác suất thu hồi nợ. Tức nói chung cần phải định giá nợ theo tiêu chuẩn thị trường. Khi giá trị trái phiếu đáo hạn được xác định dựa trên cơ sở như vậy thì các ngân hàng sẽ dễ cân nhắc nắm giữ trái phiếu và chấp nhận trích lập dự phòng rủi ro, trong khi đó, NHNN cũng không phải chịu thiệt hại, mà bản thân VAMC cũng có động cơ xử lý nợ để hoàn trả nợ trái phiếu”.
Giải quyết nợ xấu trước hết là trách nhiệm của các ngân hàng đã từng phóng tay cho vay những khoản nay trở thành nợ xấu, trừ phi đó là những khoản vay chỉ định. Họ phải đóng vai chủ động hơn nữa trong một đề án xử lý nợ xấu hiệu quả, chứ không phải chỉ kêu gọi, “trăm sự nhờ ngân hàng”.
Vừa viết xong bài “Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng Phân tích ứng dụng với kinh tế Mỹ và Việt Nam” để đăng trên Thời Đại Mới (sẽ xuất bản vào giữa tháng 3/2013), tôi lại thấy quyển sách The Bankers’ New Clothes (Quần áo mới của các nhà ngân hàng) của hai tác giả Anat Admati (giáo sư Đại học Stanford) và Martin Hellwig (giám đốc Viện Max Planck về hàng hóa tập thể) do nhà xuất bản Đại học Princeton ấn hành.
Thay vì rút ra nét chính để đưa vào bài của mình, tôi viết riêng bài này để nêu lên những phê bình chính của hai tác giả trên về hoạt động của ngân hàng. 

Rất nhiều cuộc khủng hoảng ngân hàng đã xảy ra ở Mỹ và trên thế giới

Ai cũng biết là vai trò ngân hàng là thu hút tiền gửi của khách hàng (chủ yếu là dân chúng) và để cho doanh nghiệp vay sản xuất (đặc biệt là đầu tư) và cho dân chúng vay tiêu dùng những món hàng lớn, đặc biệt là nhà cửa.
Thay vì doanh nghiệp phải hoàn toàn dựa vào vốn của mình để phát triển thì doanh nghiệp có thể vay vốn của rất nhiều người mà ngân hàng tập hợp lại. Ngân hàng làm trung gian và hưởng dịch vụ phí.

Dân chúng ký gửi tiền vào ngân hàng vì tin rằng ngân hàng có khả năng đánh giá doanh nghiệp, bằng cách xem xét lịch sử phát triển, lý lịch hành xử của doanh nghiệp, tiềm năng của dự án đi vay và khả năng chi trả của doanh nghiệp rồi mới cho vay. Cũng thế ngân hàng đánh giá thu nhập của dân cư muốn vay mua nhà, lý lịch vay mượn cũng như khả năng chi trả của họ. Người ta bỏ tiền vào ngân hàng vì có sự tin cậy vào khả năng đánh giá cũng như tính ngay thẳng của nó.  

Nếu những người chủ ngân hàng bỏ ra 3 đồng (gọi là vốn tự có), thu hút tiền gửi 97 đồng và họ cho vay 100 đồng thì như thế, nếu nợ không đòi được là 4 đồng thì vốn tự có của các ông chủ ngân hàng coi như hơn mất sạch.
Nếu dân chúng nghe tin ngân hàng có vấn đề, lũ lượt rút tiền thì ngân hàng mất khả năng chi trả và phá sản. Người bỏ tiền muốn rằng số tiền mình bỏ ra được nguyên vẹn. Các ngân hàng kêu gào chính phủ cứu trợ, như qua chương trình cứu trợ các tài sản có vấn đề (Troubled Asset Relief Program) năm 2008 mà chính phủ Mỹ phải bỏ ra 475 tỷ USD. 
Điều này khác hẳn các công ty phi tài chính. Giá chứng khoán xuống thì doanh nghiệp tự chịu. Doanh nghiệp phải bỏ vốn tự có rất lớn để kinh doanh qua việc phát hành cổ phiếu, vay mượn của doanh nghiệp ở Mỹ nói chung chỉ bằng 70% vốn tự có.

Như thế, theo hai giáo sư ngân hàng Mỹ sống dựa vào bù lỗ từ thuế của dân nhằm cứu ngân hàng khỏi phá sản, vì sợ rằng sự phá sản của chúng sẽ đưa nền kinh tế đến khủng hoảng trầm trọng hơn. 

Chỉ tính từ 1980 đã có rất nhiều cuộc khủng hoảng đã xảy ra ở nước Mỹ và trên thế giới.

 Ở Mỹ có 3 cuộc khủng hoảng lớn về ngân hàng:

1) khủng hoảng Ngân hàng Để dành và Cho vay (Saving and Loans Banks) ở Mỹ (747 trong số 3.234 nhà băng) vì nhiều lý do, trong đó có lý do chính là bịp bợm làm tốn chính phủ Mỹ 160 tỷ USD (tính từ 1986-1995);

2) sự phá sản của Long-Term Capital Management L.P. (LTCM) năm 1998. Thực ra đây là phá sản của một công ty phi ngân hàng đầu tư vào các chứng khoán và loại phái sinh tài chính; nhưng vì khoản lỗ 4.7 tỷ USD sợ có ảnh hưởng trực 
tiếp tới ngân hàng nên Ngân hàng Trung ương New York phải đứng ra tổ chức cứu trợ; và cuối cùng lớn nhất là:

3) sự phá sản của hệ thống tài chính Mỹ năm 2007 như đã nói đến ở trên.

Trên thế giới cũng đầy rẫy các cuộc khủng hoảng ngân hàng lớn từ Nhật (1986-2003), Venezuela (1994), Châu Á trong đó có Hàn Quốc, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia (1997), Nga (1998), Uruguay (2002), Argentina (1999-2002), và từ 2008 thì hàng loạt các nước bị khủng hoảng bao gồm Mỹ, Iceland, Ireland, Anh, Bỉ, Ukraine, Nga, Tây Ban Nha, v.v… 

Hệ số vốn đơn giản và Hệ số vốn có dựa trên tài sản có trọng số rủi ro

Theo qui định trước đây ở Mỹ, hệ số vốn đơn giản (vốn tự có chia cho tài sản) chỉ là 5% và theo qui định mới Basel III của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlements) ở Thụy Sỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008,  ệ số vốn được tăng lên là 7% (nhưng mãi đến năm 2019 mới phải thực hiện).  
Các ngân hàng đều có một tiếng nói chung là chống lại việc tăng hệ số vốn, và cho rằng như thế là làm mất khả năng cho vay của họ và làm thiệt hại đến sự phát triển của nền kinh tế.
Họ bày ra nhiều cách như việc đưa độ rủi ro của từng loại tài sản để tính hệ số vốn. Cơ bản là nhằm giảm giá trị tài sản nằm ở mẫu số để có thể tăng hệ số. Họ muốn từng loại tài sản phải được tính theo trọng số rủi ro khi tính tổng tài sản (risk weighted assets), vì cho rằng có tài sản không có độ rủi ro như dự trữ ở ngân hàng trung ương, 20% rủi ro như trái phiếu nhà nước,  50% rủi ro nếu cho vay mua nhà có thế chấp. Với cách tính như thế, thực chất hệ số vốn trên chỉ tương đương với 3% nếu như không tính đến độ rủi ro.

Có thể nói là các ông chủ ngân hàng bằng nhiều lập luận phức tạp và bác học tựu chung cũng chỉ nhằm giảm tiền vốn tự có phải bỏ ra càng ít càng tốt, và đẩy cho xã hội trả giá cho những sai lầm của họ. Tất nhiên xã hội nào cũng biết thế nên tìm mọi cách đặt ra luật lệ và các cơ chế kiểm soát chặt chẽ ngân hàng. Ngược lại, nhóm lợi ích ngân hàng bằng mọi cách vận động để có càng ít kiểm soát càng tốt, qua số tiền bỏ ra ủng hộ các ứng cử viên trong các cuộc chạy đua chức vụ vào quốc hội hay hành pháp.  

Như vậy là hai tác giả này đã nêu rõ ra lý do cơ bản gây ra sự phá sản của ngân hàng và trong nhiều trường hợp tạo ra khủng hoảng tài chính và kinh tế kéo dài, đó là vì vốn tự có quá thấp.

Tuy nhiên, vốn tự có quá thấp không phải là điều luôn xảy ra trong mọi thời đại. Vào thế kỷ 19, các ngân hàng đều có vốn tự có khoảng 40-50% tổng tài sản. Rõ ràng là nếu ngân hàng dùng vốn của người khác để làm giàu nên họ dễ hành động bất chấp rủi ro. Nếu mất tiền là mất tiền của người khác chứ không phải của cổ đông. Đối với họ nhà nước là kẻ cứu rỗi cuối cùng. Vai trò cứu chuộc của Ngân hàng Trung ương sau cuộc đại khủng hoảng năm 1929 được coi là nghiễm nhiên. Ngân hàng càng lớn thì lại càng bất chấp rủi ro vì họ nghĩ rằng nhà nước không thể để họ chết.   
Có lẽ đây là lần đầu tiên có hai nhà kinh tế nhìn lại vấn đề về hệ số vốn như trên. Hai ông không đặt ra hệ số đáng có. Nhưng đây là những điều đáng làm ta suy nghĩ về giải pháp khống chế ngân hàng nhằm giảm khả năng khủng hoảng.  

Trở lại vấn đề Việt Nam, hệ số vốn hiện nay chỉ khoảng 4-6% hoặc thấp hơn và thấp xa so với hệ số 11.5% của hệ thống Mỹ và 13% của hệ thống Philippines. Không những thế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Trung ương cũng rất thấp, chỉ từ 1-3% (3% áp dụng cho loại kỳ gửi dưới 1năm). Tỷ lệ tiền ký gửi dự trữ này là nhằm hạn chế mức cho vay của ngân hàng nhưng ở mặt khác có thể coi là giữ thanh khoản để chi trả cho khách hàng nếu cần.  Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở Việt Nam rất thấp so với Trung Quốc có tỷ lệ dự trữ là 20.5%, Hồng Kông là 18%, Brazil là 21%, và Mỹ có ba mức là 0%, 3% và 10% tùy giá trị tài khoản ký gửi cao tới mức nào.    

Vì những dễ dãi ở Việt Nam, đặc biệt là Luật Tín dụng cho phép ngân hàng thương mại đầu tư chứng khoán, buôn vàng, kinh doanh xây dựng, mua công ty và ngược lại cho công ty phi tài chính mở ngân hàng là lý do giải thích tại sao rất nhiều chủ ngân hàng từng là dân gần như khố rách ở Việt Nam đã nhanh chóng trở nên giàu có và tha hồ phù phép. Nếu có nợ xấu tới mức phá sản, họ nhìn vào vai trò của nhà nước cứu giúp bằng đồng tiền thuế, nhưng chủ yếu là máy in tiền của nhà nước.     

link : http://www.viet-studies.info/kinhte/VQViet_OngHoangKhongQuan.htm

Thanh niên ở ĐBSCL đang làm gì?
Họ đang vui …
Tác giả: Lê Công Lý  (4/11/2013)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần
Thanh niên ở ĐBSCL đang làm gì? Câu hỏi trên tưởng chừng như thừa thãi, vì xưa nay ở đâu có nếp sinh hoạt đó: Thành thị thì kinh doanh buôn bán, lao động công nghiệp và dịch vụ…, nông thôn thì trồng trọt chăn nuôi là chủ yếu. Gần đây ở nông thôn ĐBSCL xuất hiện nhiều khu công nghiệp, còn nông nghiệp thì tiến độ cơ khí hóa diễn ra rất nhanh (máy cày, máy xới, máy trục, máy gặt đập liên hợp…) nên lẽ đương nhiên là cơ cấu lao động cũng dần dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp.
Tuy nhiên, nếu sự dịch chuyển này diễn ra một cách cân đối thì cũng là một tín hiệu tốt lành, đằng này lại chứa đựng sự mất cân đối nghiêm trọng: Lao động công nghiệp (mà chủ yếu là làm công nhân) hầu như chỉ dung nạp nữ thanh niên, còn nam thanh niên thì không có việc làm. Các chủ doanh nghiệp cho biết lý do là vì các công việc này không cần sức vóc mà chỉ cần chăm chỉ, do đó tuyển nam công nhân vào làm sẽ không phù hợp, lại có nguy cơ đánh nhau, đập phá gây hư hại tài sản của doanh nghiệp.
Bởi vậy mà trừ những nam thanh niên học hết lớp 12 (hoặc ít ra là hết lớp 9) có thể học nghề gì đó và tìm được việc làm, những thanh niên không học hoặc học hành dở dang thì hầu như chỉ còn cách đi làm hồ, số còn lại không được siêng năng lắm chỉ còn cách lêu lổng, vô công rỗi nghề. Một số rất nỗ lực xin làm bảo vệ, công nhân nhưng hầu hết đều bị từ chối (vì trình độ học vấn hay vì doanh nghiệp không tuyển nam công nhân). Thậm chí một số muốn được đi nghĩa vụ quân sự nhưng vẫn khó được tuyển, vì không đủ trình độ học vấn, mặc dù phần lớn các địa phương đều báo cáo đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.
Tình trạng nói trên một mặt gây lãng phí một nguồn sức lao động rất lớn và mặt khác làm tăng nguy cơ nảy sinh các tệ nạn xã hội, bởi “Nhàn cư vi bất thiện”. Điều này thấy rõ nhất ở các cánh đồng hay nông trường vừa giải phóng mặt bằng để làm khu công nghiệp hay khu vui chơi giải trí gì đó: Lao động nông nghiệp bị xóa sổ mà không có việc làm gì để thay vào. Tất nhiên chính quyền địa phương cũng tìm cách để chuyển đổi nghề cho họ, nhưng thực tế cho thấy họ rất khó thích nghi với các nghề mới như kinh doanh hay làm dịch vụ, bởi thiếu vốn và kinh nghiệm, tay nghề.
Một khi đời sống vật chất đã thấp, thu nhập không có thì đương nhiên đời sống tinh thần của lớp nam thanh niên này cũng không thể khá hơn. Phần lớn trong số họ sống bám gia đình, một số sa vào các tệ nạn như như: cờ bạc, trộm cắp, một số còn dính vào ma túy… Nhìn chung, cách giải trí thông thường của nam thanh niên ở ĐBSCL hiện nay là… nhậu nhẹt. Nhậu có nghề. Nhậu triền miên, hàng ngày. Cách giải trí được xem là lành mạnh hơn chính là… uống cà phê.
Do nhu cầu uống cà phê quá lớn, mọi lúc mọi chỗ nên ở ĐBSCL có rất nhiều quán cà phê mà phần lớn là quán bình dân… Tuy gọi là bình dân nhưng các quán này cũng thường tuyển chọn người phục vụ là các cô gái trẻ đẹp để câu khách, từ đó hình thành một hạng gái gọi là “gái bán quán cà phê”. Trong khi các nữ thanh niên mải lo đi học hoặc đi làm công nhân suốt ngày và có khoảng cách quá lớn so với các nam thanh niên thiếu học, thất nghiệp thì các cô gái bán cà phê này chính là phần an ủi của các anh chàng ở quê. Bởi vậy mà trong khi các nam thanh niên thường xuyên “ngồi đồng” lê thê tại các quán cà phê, xem như là một kiểu hưởng thụ văn hóa thì tại đây người ta rất hiếm khi bắt gặp khách là phụ nữ. Chính vì vậy mà có thể nói các quán cà phê ở nông thôn thực sự trở thành các tụ điểm giao lưu riêng của các nam thanh niên nhàn rỗi.
Do khó kiếm được người yêu và khó có tiền cưới vợ nên hiện nay ở ĐBSCL đang báo động tình trạng nam thanh niên độc thân trong khi nhiều chị em phụ nữ chỉ chăm chăm lấy chồng nước ngoài hoặc lấy chồng thành phố. Tình trạng “cung cầu” mất quân bình nghiêm trọng đó dẫn đến tâm lý bức xúc tự phát trong vô thức của nam thanh niên, dẫn đến những hành động điên cuồng mất kiểm soát như đua xe, nhậu say nằm vắt ngang đường, đánh nhau, chém nhau… Thậm chí người ta thường nghe nhiều trường hợp nam thanh niên tự hủy hoại thân thể như tự tạo nên các vết sẹo trên mình, có trường hợp nhậu say rồi tự… nhai nuốt luôn ly rượu, đĩa sành, thậm chí tự… mổ bụng.
Mặt khác, cũng do tình trạng độc thân ngày càng tăng lên nên nhu cầu có những “mối tình chớp nhoáng” ngày càng nhiều. Bởi vậy mà trong khi kinh tế còn nghèo nhưng càng ngày nhiều dịch vụ xa xỉ lại nở rộ ngay ở nông thôn vùng sâu như: dịch vụ “gội đầu nam”, “giác hơi cổ truyền”, nhà nghỉ… Không kể nhiều dịch vụ cà phê ôm, thậm chí rượu đế ôm vốn có từ trước.
Trong khi đông đảo nam thanh niên còn chưa biết làm gì thì nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn lại đang có nguy cơ thiếu lực lượng kế thừa nghiêm trọng. Bởi vì các thanh niên tương đối có học vấn, có ý thức thì đã đổ về các thành phố, số còn lại ở nông thôn thì mang nhiều mặc cảm nên hiếm khi họ đến với các đình, chùa, miễu… Đi chùa, cúng miễu bây giờ chủ yếu dành cho các cụ bà, cúng đình dành cho các cụ ông. Rất hiếm hoi thấy bóng dáng của một vài nam thanh niên lạc lõng ở các địa chỉ này.
Tuy nhiên, cuộc sống luôn là quá trình tự điểu chỉnh. Để bù vào khoảng trống của đời sống tinh thần nói trên, hiện nay ở ĐBSCL đang nở rộ các ban nhạc sống để phục vụ nhu cầu ca hát của nam thanh niên. Bất kể là đám cưới, đám hỏi, đám ma, đám giỗ, đầy tháng, thôi nôi, tân gia, hay chỉ đơn giản là… đám nhậu, người ta đều thường thuê dàn nhạc sống để phục vụ cho các anh chàng sung sức tha hồ ca hát, nhảy múa, hò hét vang dội suốt ngày, có khi thâu đêm suốt sáng. Điểm đặc biệt là các dàn nhạc này được đánh giá chỉ chủ yếu dựa vào công suất của hệ thống loa. Do đó, mỗi dịp ca hát này là một lần kinh động cả xóm làng.
Trong khi đó, cách giải trí phổ biến của chị em phụ nữ ở nông thôn ĐBSCL hiện nay có phần lành mạnh hơn. Các hoạt động này của chị em chỉ chủ yếu diễn ra vào ngày Chủ nhật vì phần lớn họ là công nhân. Đó là việc mua sắm tại các chợ quê, làm đẹp như cắt uốn nhuộm tóc, làm móng tay, tẩy trắng da, massage mặt…, làm cho các địa chỉ này đông đúc hẳn lên vào các ngày Chủ nhật.
Thỉnh thoảng có các đoàn ca nhạc, xiếc, ảo thuật, hội chợ giải trí… về vùng quê biểu diễn, thì tối đến nam nữ thanh niên lũ lượt đi xem, nhưng số mua vé vào thưởng thức không nhiều mà chủ yếu chỉ là cái cớ để họ đi chơi cho vui mà thôi. Chính vì vậy mà có một tình trạng kẹt xe, thậm chí kẹt… người diễn ra thường xuyên ngay tại vòng ngoài, phía trước của các sân khấu biểu diễn này, dù số người vào xem bên trong chỉ lèo tèo. Tương tự như vậy, tại các chùa vào các ngày rằm lớn và tại các nhà thờ vào dịp Giáng sinh cũng đông nghẹt nam nữ thanh niên, nhưng họ chủ yếu chỉ đi trẩy hội, số thanh niên đến đây vì mục đích tôn giáo có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Họ, những người thanh niên sức dài vai rộng nơi vùng đất phì nhiêu, nơi “cánh đồng bất tận” đang sống và vui như thế.

link : http://thethaovanhoa.vn/xa-hoi/ho-dang-vui-nhu-the-n20131030123620978.htm

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Tác giả: Phan Châu Thành (22/10/2013)
Tương lai của thể hệ trẻ là tương lai đất nước, ai cũng quan tâm, tôi cũng vậy, vô cùng quan tâm, dù chỉ là một công dân vô danh. Gần đây có hai câu chuyện khiến tôi nhìn lại vấn đề này từ hai góc độ tuy hai mà một đó: tương lai đất nước và tương lai của thế hệ trẻ (8x và 9x hiện nay). Và tôi đã đi đến cùng một kết luận, vô cùng bi quan.
Góc độ thứ nhất, tương lai đất nước phụ thuộc vào tầm nhìn, tài năng, đức độ của các nhà lãnh đạo lãnh đạo đất nước hiện nay, từ cấp cao nhất đến thấp. Ở nước ta, đó là các cán bộ đảng cộng sản VN. Về vấn đề này, cái nhìn khách quan và sắc sảo nhất từ ngoài vào có lẽ là của ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng khai quốc Singapore. Ông đã nói đại ý: Người Việt giỏi và thông minh hàng đầu Đông Nam Á, đáng lẽ họ phải là nước giàu mạnh từ lâu rồi, nhưng lãnh đạo của họ bị kìm kẹp trong ý thức hệ (cộng sản) và những người hiện là lãnh đạo chỉ nhờ (đã) giỏi đánh nhau (trong chiến tranh) nên đất nước không lên được. Bao giờ lớp người này về hưu hết, thế hệ trẻ giỏi giang sẽ lên, Việt Nam sẽ phát triển.
Nhiều người Việt trầm trồ tâm đắc vì câu nói “tiên tri” này của ông Lý, và tràn trề hy vọng về tương lai của Việt Nam, nhất là khi cái ông “đánh nhau giỏi nhất” và sống dai nhất cuối cùng cũng đã ra đi rồi. Tôi thì không nghĩ thế.
Thứ nhất, theo tôi, đây chỉ là câu nói “có cơ sở – có chê – có khen – có tiên tri – có trí tuệ” của nhà một nhà ngoại giao và lãnh đạo lão luyện và đẳng cấp. Đẳng cấp ở chỗ là nó không bao giờ sai mà không cần nói hết sự thật (mất lòng) mà vẫn được (người bị phê – người Việt) tung hô ca ngợi. Ông Hồ là số ít CSVN thỉnh thoảng nói được những câu như thế, đủ làm cả nhiều triệu dân Việt đê mê triền miên suốt vài thế hệ nay.
Nhưng câu của ông Lý chỉ đúng với những năm 80-90 của thế kỷ trước, khi lãnh đạo Việt Nam chủ yếu là các tướng lĩnh công thần. Hơn ai hết ông Lý hiểu rằng thế hệ lãnh đạo Việt Nam hiện nay là thế hệ con cháu của ông, như chính con trai ông – Lý Hiển Long – đang đĩnh đạc làm Thủ tướng Singapore vậy. Họ thông minh và tài giỏi – như ông khen, đa số họ cũng được cả đời đi học (khi đất nước chiến tranh) và có bằng cấp chẳng kém gì con trai ông, mà có khi còn làm thầy con trai ông được (về số lượng bằng cấp)… Con trai ông phải chứng tỏ (và đã chứng tỏ được) tài năng trí đức từ một sĩ quan quèn để lên Thủ tướng, còn các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng phải “hạ biết bao đối thủ” để lên cao như hiện nay, nhưng tại sao Singapore thì đã hóa rồng từ lâu, còn Việt Nam vẫn … là giun? (Việt Nam đang thua Singapore khoảng … 130 năm chứ mấy!)
Thứ hai, là người Việt cùng trong thế hệ của những người đang cầm quyền ở Việt hiện nay, và cũng được đào tạo, dạy bảo như họ, tôi biết họ không hề bị kìm kẹp bởi ý thức hệ như ông Lý nghĩ đâu, họ chỉ giả vờ theo ý thức hệ đó để có quyền và cầm quyền mà thôi. Vì họ biết, qua cha ông họ, cầm quyền sẽ mang cho cá nhân và gia đình họ tất cả mọi thứ họ muốn: giàu sang, an nhàn, danh tiếng, hạnh phúc – tức là sống trên đầu dân chúng, mà không phải chịu trách nhiệm gì cả về đất nước, xã hội. Đất nước, xã hội (mà họ đang cầm quyền) sẽ đi đến đâu, họ không thực sự quan tâm. Điều duy nhất họ thực sự quan tâm là họ sẽ cầm quyền được bao lâu và họ sẽ truyền quyền lực đó cho con cháu như thế nào?
Thế cho nên, như thế hệ trước của những người lãnh đạo đất nước Việt Nam (cùng thời ông Lý), thế hệ này (cùng thời con trai ông), hay thế hệ sau sẽ lên (con cháu họ) đều không quan tâm đến việc đất nước Việt Nam có đi lên hay không, mà họ chỉ quan tâm một điều: họ có nắm vững quyền hành trong tay hay không… là điều có lẽ ông Lý không thể hiểu được. Vì, dù ông Lý cũng quan tâm điều đó cho đảng Nhân dân Hành động của ông, nhưng ông quan còn quan tâm một điều khác hơn hết: đó là sự Thịnh vượng của cả Quốc gia Singapore.
Có thể thế hệ sau, cháu nội ông Lý cũng vẫn sẽ được làm Thủ tưởng Singapore và đảo quốc nhỏ bé của ông vẫn là điểm sáng chói trên bản đồ thế giới mà tôi luôn ngưỡng mộ, thì đó là nhờ ba điều: ông và con trai ông sẽ giúp (dạy dỗ và trau dồi) hậu duệ mình phát triển, bản thân cháu ông sẽ phải nỗ lực để xứng đáng và chứng tỏ tài năng đức trí để được đa số nhân dân Singapore tin cậy và bầu vào chức vụ đó, và thứ ba – quan trọng nhất – là nhờ thế hệ ông và con trai ông đã đặt nền móng cho một thể chế mà việc bầu bán công bằng như thế đã, đang và sẽ xảy ra.
Còn ở Việt Nam thì sao? Những người lãnh đạo đất nước và mọi cấp chính quyền không cần cả ba điều trên mà chỉ cần hai điều khác là đủ tiến thân: được cha ông mình dọn chỗ cho và diệt tất cả những người khác giỏi và tốt hơn họ, để giữ chỗ.
Với cách chọn người như thế, có thể thấy rõ điều ông Lý nói về sự thông minh tài giỏi nói chung của người Việt không hề được khai thác để từ đó tuyển chọn lãnh đạo đất nước, mà còn bị làm kiệt quệ đi với chính sách ngu dân của đảng cộng sản. Nên đất nước Việt Nam cứ đi xuống mãi là lẽ tất nhiên.
Và điều này dẫn đến vế thứ hai mà tôi nói đến ở đầu bài về tương lai nước Việt Nam: Liệu thế hệ trẻ của Việt Nam có cơ hội đóng góp tài năng (mà khi đi du học khắp nơi trên thế giới họ luôn đã và đang chứng tỏ), như ý của ông Lý Quang Diệu? Thế hệ trẻ Việt Nam có tương lai trên đất Việt Nam không?
Câu trả lời của tôi, thật đau xót, lại là: Không. Không, nếu chế độ cộng sản này vẫn cầm quyền, vì họ vẫn “chọn người” lãnh đạo cách thoái hóa giống nòi như họ đã và đang làm, thậm chí còn theo cách càng ngày càng đê tiện hơn.
Để chứng mình cho điều này ở góc độ thứ hai tôi xin kể hai câu chuyện mình biết trực tiếp, như sau.
Thứ nhất, câu chuyện chúng tôi. Thế hệ tôi 5x, ông và cha đều “vô tư theo cách mạng đến cùng” nên được học hành đầy đủ và khá “đủ điều kiện” để tiến thân tốt đẹp trong chế độ này. Chúng tôi cứ nghĩ chỉ cần mình phấn đấu và đóng góp hết mình, chứng tỏ tài năng và đạo đức xứng đáng thì sẽ được trọng dụng.
Thực tế lại không phải thế. Chỉ những ai có lớp cha chú “dọn chỗ” và “bảo lãnh” thì mới được thăng tiến. Số khác đi lên bằng thủ đoạn và hai đầu gối thì bao giờ và ở đâu cũng có thì tôi không nói đến. Những người đó thường không phải nhóm xứng đáng làm lãnh đạo, thường không đủ tài năng và đạo đức, vì không có sự tuyển chọn, cạnh tranh.
Ví dụ, tôi không có cơ hội cạnh tranh bình đẳng, vì ông nội và ông ngoại tôi đều hy sinh từ thời kháng Pháp, còn cha tôi – cán bộ tiểu đoàn 307 phục viên ngay từ 1954 sau khi tập kết, nên không thể và cũng không chấp nhận làm việc “dọn đường” cho tôi. Tôi cũng và càng không muốn thế.
Các “bạn” tôi (do có người “dọn đường”) nay rất nhiều người làm to khắp nơi, và tôi thấy việc chúng nó quan tâm nhất sau “kiếm ăn” (tham nhũng) là dọn đường cho đám con cháu ngoi lên, cũng theo “nguyên tắc” như chúng nó đã đi lên: phải có người trên bảo lãnh (thực chất là lo lót và đấu tranh ngoan cường giữ chỗ, mua chỗ) và phải mua đủ bằng cấp để làm đúng thủ tục. Những chuyện này, là bạn bè, chúng nó tâm sự hết: đã lo cho đứa này đứa kia vào chỗ này chỗ kia như thế nào, hết bao nhiêu, và tương lai chúng sẽ lên chức này chức kia ra sao… Tất cả mọi chuyện như thi công chức, tuyển chọn công khai… là đều hình thức và giả dối hết. Trong tất cả các ngành, các cơ quan nhà nước, người ta chỉ nhận người “nhà”, người “của sếp”, người được “gửi gắm chéo”. Gửi gắm chéo là: tôi gửi con tôi cho cơ quan anh và nhận con anh vào cơ quan tôi với điều kiện cơ hội thăng chức và được nâng đỡ tương đương – có đi có lại. Có lẽ trên 90% cán bộ cơ quan và doanh nghiệp nhà nước và cả các lực lượng vũ trang là các dạng “tuyển chọn” như thế nên năng lực, tinh thần và đạo đức làm việc của họ có giới hạn nghiêm trọng. Hơn thế nữa, và nguy hiểm nhất, họ bịt hết, chiếm hết mọi con đường, cơ hội tiến thân, mọi vị trí cống hiến cho đất nước của những người trong đại đa số những người cùng thế hệ có năng lực, tinh thần và đạo đức làm việc tốt hơn họ.
Như vậy, các thế hệ gần tôi, người giỏi cũng không có cơ hội tham gia lãnh đạo, dù dân tộc ta là… khá giỏi.
(Nói thêm: con tôi hai đứa đã tự đi học nước ngoài, một đứa ở lại, một về nước tự xin việc công ty nước ngoài. Vì tôi đã dạy và khuyên các con phải tự lo hoàn toàn, không có ai dọn chỗ. Cậu con trai út cũng sẽ thế).
Cho đến gần đây tôi vẫn chỉ nghĩ và coi những hiện tượng ”con ông cháu cha”, chọn người, dùng người kém như trên chỉ là một vấn nạn đạo đức chung tràn lan của xã hội hiện nay mà thể chế cộng sản này (có muốn nhưng?) không ngăn được do “lỗi cơ chế”, chỉ tạo điều kiện cho nó phát triển thêm. Tôi không ngờ… còn tệ hơn thế!
Câu chuyện thứ hai: các học trò của tôi, thế hệ 8x và 9x.
Tôi thường hay được mời giảng dạy, đào tạo, nói chuyện cho thế hệ trẻ bởi các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm đào tạo về các đề tài khởi nghiệp, lập nghiệp của các bạn trẻ. Và sau đó, tôi thường làm tư vấn (tất cả đều miễn phí) cho các bạn trẻ để giúp họ khởi nghiệp kinh doanh thành công trong cái xã hội… không thành công này (đang thua xa tất cả các nước xung quanh mà ngày xưa không có đảng thì mình hơn họ!). Tôi dậy họ những cái tôi nghĩ họ cần mà nhà trường XHCN không dậy, để họ khởi nghiệp, để họ vào đời. Học trò của tôi (đã trên cả chục ngàn người học) đa số là thế hệ 8x, 9x rất trong sáng, giỏi giang, đầy nhiệt huyết, đã học xong đại học cao đẳng, nhưng… không thấy có đường đi, không có cơ hội tiến thân, không thấy tương lai, không xin được việc làm sau khi học hay không muốn làm cho nhà nước… Nguyên tắc dạy học của tôi là: tin vào thế hệ trẻ hơn họ tự tin vào chính họ, nói những điều mình làm và làm những điều mình nói, căm ghét (không chấp nhận) tham nhũng và giả dối. Tôi viết một cuốn sách “Là Doanh nhân” để dậy các em hiểu, tự hào và tự tin là doanh nhân đích thực, không làm “ranh nhân”, làm sân sau rửa tiền cho tham nhũng…
Một hôm, một bạn trẻ 8x, học trò cưng của tôi tâm sự: “Thầy ạ, ba em là cán bộ đang tại chức ở quê em (phó chủ tịch huyện), mấy năm nay em theo thầy lập nghiệp ở TP HCM rất thành công (cậu bé học vài lớp tôi giảng xong đã lập công ty, kinh doanh mới ba năm, rất phát triển, doanh thu vài chục tỷ đồng, có vài chục nhân viên, kỹ sư…), nhưng ba em cứ muốn em về làm việc trong ủy ban huyện, vì ba nói có chính sách nhà nước khi ba về hưu thì em sẽ được thay ba làm ít nhất đến chức… phó chủ tịch huyện, nhưng em không chịu…”.
Trước đó cậu bé cũng từng tự kể cho tôi, ông phó chủ tịch huyện (ba cậu) nghi rằng các lớp học của tôi là “phản động” nên mới lung lạc con trai ông và đám trẻ ham kinh doanh như thế, và đã cử lính theo học các lớp của tôi để ghi âm mang về điều tra, nhưng… không có cơ sở gì đem công an đến bắt tôi!
Tôi rất thương cậu học trò quá giỏi và ngoan đó vì cậu bé đang bị giằng xé giữa thầy và cha và con đường tương lai cậu phải chọn đi… Mấy tháng nay, cậu bé đó ít gọi điện thăm tôi. Lần cuối cùng, cậu nói ba cậu sẽ giúp cậu lấy mấy hợp đồng xây dựng lớn theo dự án của nhà nước ở tỉnh nhà, huyện nhà… Tôi đã vội hỏi lại: “Nhưng em đang kinh doanh rất tốt ở đây (TP HCM) cơ mà?”. “Vâng, nhưng em vẫn chỉ là con tép riu thôi…”. Đã từng đưa cậu đến các Hội chợ Quốc tế ở nước ngoài, tôi hiểu giấc mơ của em. Tôi bàng hoàng hiểu ra, cậu học trò của mình đã đi thẳng đến và phải đưa ra một quyết định lớn mà tôi cũng đã phải trải qua hơn chục năm trước: Chấp nhận là con tép riu trên thị trường nhưng được sống là mình trong sạch hay lớn thành “đại gia” nhờ tham nhũng, rửa tiền cùng và cho cán bộ nhà nước, rút tiền nhà nước… Tôi vớt vát: “Em ơi, đồng tiền đó có sạch đâu em… Em làm một việc như thế nào thì em sẽ có thể làm mọi việc như thế đó – trong sạch hay không…”. Nhưng, thêm vào cái chức phó chủ tịch huyện được chế độ cho “kế thừa” cha đang vẫy gọi cậu nữa, cậu bé đã im lặng…
Hơn chục năm trước, tôi khoảng bốn chục, đã qua “tam thập nhi lập” từ lâu, còn cậu học trò của tôi hôm nay còn chưa tới ba mươi… Cậu phải lựa chọn: một “hợp đồng của ba” sẽ cho cậu doanh thu bằng cả mấy năm ở Sài gòn này, và chức vụ phó chủ tịch huyện như ba nói là “cầm chắc”, cùng cái xe Zace ba mới mua cho chỉ để chạy ở nhà…
Hơn hai tháng nay cậu bé không gọi điện, không đến thăm nữa. Chắc cậu đang về quê? Công ty đã giao lại cho bạn, cũng là học trò của tôi, điều hành tiếp…
Khỏi phải nói tôi buồn đau thế nào! Như thấy chính con trai mình dây vào tham nhũng! Sau đó, tôi mới tìm cách kiểm tra lại với các “bạn bè” quan chức của tôi về chính sách “thừa kế” chức vụ cho con cái của chính quyền cộng sản này thì được hiểu là: chính sách đó là chính sách ưu tiên con em cán bộ trong bộ đảng và chính quyền, đã được thực hiện công khai nhiều năm nay ở tất cả các địa phương và trung ương, để giữ trung thành và gắn bó của cán bộ với chế độ và “xây dựng” thế hệ cán bộ trẻ! Không còn nghi ngờ gì nữa, chế độ này đã chiếm hoàn toàn quyền lực tương lai vào tay con cháu họ, bằng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn hẳn hoi. Trong tất cả mọi ngành, kể cả các lực lượng vũ trang!
Chỉ một vài học trò trong hàng nghìn học trò tôi dạy đang kinh doanh để hướng tới tương lai đích thực của họ có “cơ hội” đó. Cả thế hệ trẻ còn lại, họ đâu có cơ hội nào để thành công trong một xã hội như thế này, kể cả trong kinh doanh lẫn trong sự nghiệp chính trị?
Vì thế, sau vụ đó, tôi không nhận lời dạy hay mở lớp đi dạy các bạn trẻ khởi nghiệp nữa, họ đâu có Tương lai bình đẳng trong xã hội này!? Tương lai của họ đã bị đảng … đánh cắp!
Có lẽ Thế hệ trẻ cần học những điều khác để giành lấy Tương lai của mình vốn đã và sẽ bị …… đánh cắp hèn hạ cho con cháu họ, cùng là giành lại Tương lai cho cả đất nước này.

P.C.D- Kinh tế Việt Nam đi về đâu ?

Thụy My (Phỏng Vấn T/S Phạm Chí Dũng) RFI 28/10/2013
Doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp, lạm phát…kinh tế Việt Nam năm nay mang màu sắc u ám. Kỳ họp Quốc hội Việt Nam khai mạc vào ngày 21/10/2013 đã rộn lên với những băn khoăn, khi Chính phủ đề nghị nâng tỉ lệ bội chi từ 4,8% lên 5,3% GDP cho năm 2014, bổ sung 170.000 tỉ đồng vốn qua việc phát hành trái phiếu. Có một số lý do được đưa ra trong đó có mức thu bị hụt đến trên 3 tỉ đô la, trong khi chi ngân sách lại vượt dự toán 1,3%, nói một cách khác là ngân sách đang bắt đầu cạn kiệt.

Chính phủ Việt Nam cam đoan là trần nợ công vẫn ở mức an toàn, nhưng ngay các đại biểu Quốc hội cũng tỏ ra ngờ vực. Tờ VnEconomy có bài viết: “Kinh tế gian nan, vang bài ca cũ”, tờ Tuổi Trẻ cho biết : « Kinh tế khó khăn, đại biểu Quốc hội rưng rưng nước mắt ».
Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Đỗ Văn Đương phê phán rằng báo cáo của Chính phủ quá sơ sài, hô hào nhiều mà ít giải pháp cụ thể, trong một trang đếm được tới 23 lần các từ « đẩy mạnh, tăng cường, tích cực ». Đại biểu Trương Trọng Nghĩa cũng cho rằng báo cáo « không trung thực », khiến công luận không cảm nhận hết sự nghiêm trọng của tình hình.
Trong tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự hôm nay, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng, cũng là nhà bình luận chính trị xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh đã phân tích về vấn đề này.
RFI : Thân chào Tiến sĩ Phạm Chí Dũng. Thưa anh, suy thoái kinh tế ở Việt Nam đã kéo dài 5 năm và hiện giờ còn chưa biết sẽ đi về đâu. Quan điểm của Chính phủ cũng như trong Đảng như thế nào về câu chuyện có thể nói là chưa có hồi kết này?
TS Phạm Chí Dũng : Rất dễ thấy là trong hầu hết các đánh giá của mình, Chính phủ và các quan chức đảng nghiêng hẳn về chiều hướng lạc quan.
Có lẽ phải dùng cụm từ “can đảm và bản lĩnh” đối với giới quan chức chịu trách nhiệm chính về thành tích cũng như hậu quả kinh tế. Bởi quan điểm của Chính phủ vẫn rất “nhất quán” về tình hình kinh tế Việt Nam đang hồi phục. Nghị quyết thường kỳ hàng tháng của Chính phủ trong mấy năm suy thoái kinh tế qua vẫn không thua kém một bản luận văn “vở sạch chữ đẹp” về GDP tiếp tục tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát được kềm chế, tỷ lệ thất nghiệp thấp, nợ công an toàn, những thành tích của các bộ ngành… và vẫn mô tả động tác được coi là “quyết liệt” của lãnh đạo chính phủ trong toàn bộ hoạt động điều hành kinh tế.
Ngay cả thông báo của Hội nghị trung ương 8 của Đảng vào tháng 10/2013 cũng vẫn đánh đậm những đánh giá đầy tính tô hồng về một thực trạng kinh tế u ám.
Quan điểm tô hồng cũng được bổ khuyết bởi một số chuyên gia có mối quan hệ khắng khít với Đảng như TS Trần Du Lịch – Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, TS Lê Xuân Nghĩa – nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, TS Võ Trí Thành – Phó viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương, TS Vũ Đình Ánh – Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Khoa học Thị trường Giá cả…
Khi nửa đầu của năm 2013 kết thúc, một lần nữa luồng quan điểm lạc quan về tương lai kinh tế lại trỗi lên, với sắc diện man mác như chủ thuyết “Trung Quốc trỗi dậy” từ phương Bắc. Mới đây, những chuyên gia thân cận nhà nước như ông Lê Xuân Nghĩa đã nhắc lại là nền kinh tế đã chính thức thoát đáy. Người đại diện cho Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương là ông Võ Trí Thành, mặc dù thường dè dặt trong những đánh giá về “đáy” của nền kinh tế, cũng cho rằng Việt Nam “có cơ hội lớn chưa từng có” để ký kết các hiệp định với khối thương mại tự do ASEAN và TPP.
Tại Diễn đàn kinh tế mùa thu vào tháng 9/2013, khi ông Lê Quốc Lý, Học Viện Chính trị Hành chính Quốc gia, phát biểu : “Chính sách tiền tệ thắt chặt quá mức như thế làm doanh nghiệp chết, kinh tế suy kiệt là đương nhiên. Như thế làm gì có năng lượng mà tăng trưởng”, lập tức ông Trần Du Lịch phản bác : “Quan điểm của anh Lý là cực kỳ nguy hiểm!”.
Từ cuối năm 2012, giới chuyên gia nhà nước, trong đó có ông Trần Du Lịch, đã trở nên mạnh dạn và dũng cảm đến mức bất thường khi cho rằng nền kinh tế đã “thoát đáy”, cho dù vào đầu năm 2013, cơ quan thường trực của Quốc hội là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chính thức phát ra con số có ít nhất 100.000 doanh nghiệp phải giải thể và phá sản, chiếm đến 15-20% tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Việt Nam.
Vô tình hay hữu ý, những chuyên gia cao cấp như ông Trần Du Lịch đang trở thành lớp trí thức cận vệ che chắn cho bức tường đầy rêu phong loang lổ.
RFI : Thưa anh, đó là cách nhìn tô hồng phù hợp với “đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước”, nhưng chắc là cũng có những ý kiến khác ?
Khung cảnh kinh tế ngổn ngang và ngập ngụa như thế này mà không có ý kiến trái chiều, đối nghịch mới là lạ.
Một hiện tượng rất đáng quan tâm trong thực thể kinh tế – chính trị ở Việt Nam là mặc dù Đảng chưa bao giờ thừa nhận tính đa nguyên, song những gì đã và đang thể hiện trong các đánh giá, phân tích về kinh tế lại cho thấy một biểu trưng ngày càng sắc nét về nguyên lý “vật chất quyết định ý thức”.
Chưa bao giờ từ giai đoạn mở cửa kinh tế năm 1990 đến nay, đa nguyên kinh tế lại phổ biến một cách tự phát như hiện thời. Đó cũng là lý do vì sao lại xuất hiện ngày càng nhiều quan điểm khác biệt phản bác về thực trạng luôn được coi là “ổn định” của nền kinh tế Việt Nam.
Đến lúc này, giới chuyên gia phản biện và đặc biệt là những chuyên gia phản biện độc lập ở Việt Nam đã không còn chịu đựng nổi thái độ “trùm mền”. Nếu vài năm trước chỉ có những tên tuổi phản biện đơn độc như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Chu Hảo… thì từ đầu năm 2013 đến nay còn hiện ra những cái tên khác thuộc về khối quan chức nhà nước.
Một hoạt động có tiêu đề là “Diễn đàn kinh tế mùa thu” vào cuối tháng 9/2013 đã thêm một lần nữa vang lên tiếng nói của nhiều chuyên gia phản biện về hiện tồn nền kinh tế đang rơi vào một cuộc suy thoái sâu sắc. Từ “khủng hoảng” cũng được một số chuyên gia và báo chí đặc tả, mặc dù trước đó các cơ quan điều hành kinh tế và giới tuyên giáo trung ương hầu như không thiết tha gì với từ ngữ này, thậm chí còn có thái độ ngăn cản giới phóng viên “không được bi quan hóa tình hình kinh tế”.
Trong Diễn đàn kinh tế mùa thu, lần đầu tiên giới chuyên gia ở Việt Nam bắt đầu phải mổ xẻ về độ chân thực của chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Ngay Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ cũng phải đặt vấn đề “GDP chạy đâu hết cả rồi?”. Tiếp theo đó, báo giới trong nước lại có được một tiêu đề hay ho là “GDP có chân?”. Người ta ngạc nhiên về việc trong năm 2012, gần hết các tỉnh thành báo cáo GDP địa phương tăng trên 10%, trong khi con số GDP chính thức của toàn quốc chỉ là trên 5%, tức GDP quốc gia đã bị giảm đến một nửa so với các báo cáo của chính quyền các địa phương.
Nghịch lý này cho thấy cái gì? Hoặc Tổng cục Thống kê tính chưa sát, hoặc chính quyền các địa phương thuần túy chạy theo chủ nghĩa thành tích. Mà chủ nghĩa thành tích lại luôn là một đặc trưng không thể thiếu trong tâm lý quản lý kinh tế ở Việt Nam, khi tỉnh thành nào cũng muốn có được những con số đẹp để làm hài lòng cấp trên, hơn hẳn so với chuyện “an dân”.
RFI : Nghịch lý của GDP có liên quan đến việc nền kinh tế được gọi là “thoát đáy” ở Việt Nam hay không?
Đương nhiên là có. Là một số con số tổng quát nhất, đại diện nhất cho sức khỏe của nền kinh tế, GDP lại luôn bị nghi ngờ về tính trung thực của nó. Nếu ở Trung Quốc, một số trong giới chuyên gia phản biện độc lập đã nghi ngờ rằng GDP thực của quốc gia này không phải là 8% như con số báo cáo của chính phủ, mà thực tế chỉ khoảng 3,7%, thì GDP ở Việt Nam có lẽ cũng nằm trong tình trạng tương tự. Người ta nghi ngờ con số báo cáo cáo của chính phủ Việt Nam và “quyết tâm” của Bộ Chính trị lẫn Quốc hội về việc “giữ vững” GDP từ 9% vào năm 2011 xuống còn 5,5% vào năm 2013 thực ra chỉ là con số ảo, mà con số thực chất có thể thấp hơn nhiều, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đã suy thoái quá trầm trọng kéo dài đến 5 năm qua.
Những ảo ảnh về GDP cũng có mối liên hệ không thiếu hữu cơ với một nghịch lý lớn khác là là tỉ lệ thất nghiệp. Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về tỉ lệ thất nghiệp cuối năm 2012 chỉ có 1,99%, tức còn khả quan hơn cả năm 2011 và năm 2010, trong khi một số chuyên gia phản biện cho rằng tỉ lệ thất nghiệp thực tế phải gấp đến mười lần như thế.
Đó cũng là lý do vì sao ngày càng xuất hiện nhiều chuyên gia đánh giá về hiện trạng kinh tế Việt Nam chưa có gì gọi là thoát đáy. Nếu vào năm 2012 giới quản lý kinh tế nêu ra giả định về kinh tế có thể phục hồi theo chữ V, thì nay người ta buộc phải nhìn nhận là nền kinh tế có thể đang dao động tại đáy chữ L, hoặc tệ hơn là theo chữ W, nghĩa là có thể diễn ra một trận bổ nhào nữa.
Một nhân tố mới đáng chú ý là ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế việt Nam, đã trở thành một trong những trí thức lề đảng phản biện khá mạnh mẽ từ khi Diễn đàn kinh tế mùa xuân được tổ chức vào tháng 4/2013. Tại diễn đàn này, vấn đề nợ và nợ xấu của Việt Nam đã lần đầu tiên được đưa lên bàn mổ, với con số nợ xấu thực tế được nêu ra gấp hơn hai lần con số báo cáo của Ngân hàng nhà nước.
Cùng với ông Trần Đình Thiên, nhiều chuyên gia phản biện độc lập khác như ông Bùi Kiến Thành, người mà từ năm 2011 đã vẽ ra một hình ảnh rất thống thiết là “ruộng khô lúa cháy” về tình cảnh khát vốn, đói vốn của doanh nghiệp, cũng cho rằng kinh tế Việt Nam còn phải kéo dài độ trì trệ một thời gian nữa, ít nhất đến cuối năm 2014 ; để lạc quan hơn thì sau đó mới có thể phục hồi; nhưng chỉ phục hồi với điều kiện tiên quyết là phải giải quyết được nợ xấu và lành mạnh hệ thống ngân hàng.
RFI : Hoạt động phản biện kinh tế có tác dụng gì trong thực tế hay không thưa anh ?
Phản biện kinh tế đã bắt đầu nổi lên từ năm 2008, khi nền kinh tế Việt Nam khởi động cho một chu kỳ lao dốc. Tuy nhiên vào năm 2008, giới điều hành kinh tế có thể viện dẫn lý do là kinh tế Việt Nam chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Nhưng đến năm 2011 thì không còn có thể viện dẫn bất cứ cái gì nữa, khi mà kinh tế Mỹ đã bắt đầu phục hồi từ cuối năm 2011 và kéo dài sự phục hồi, tuy chậm chạp nhưng khá bền vững, cho đến nay. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục suy thoái và từ giữa năm 2011, cùng với sự sụp đổ của hai thị trường chứng khoán và bất động sản, nền kinh tế quốc gia này đã lâm vào thế khốn khó.
Đó là tình cảnh khốn khó đối với với đời sống dân sinh – những đối tượng phải chịu nạn lạm phát treo cao kinh niên và những chính sách điều hành bất nhất của chính quyền, không bảo đảm an sinh xã hội trong khi vật giá leo thang. Nhưng khốn khó đặc trưng hơn là ngay cả giới doanh nghiệp sản xuất và một phần giới doanh nghiệp đầu cơ cũng lâm vào thế bế tắc. Hàng tồn kho tăng mạnh, tỉ trọng sản xuất sụt giảm, vòng quay vốn cũng giảm nhanh, trong khi các ngân hàng thi nhau lũng đoạn bằng thủ đoạn tăng lãi suất cho vay đến trên 20%, có thời điểm lên đến 30%, găm tiền khiến cho đại đa số doanh nghiệp sản xuất không thể tiếp cận được vốn.
Đến đầu năm 2012, không chỉ các doanh nghiệp sản xuất mà cả giới ngân hàng cũng bắt đầu rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ngân hàng đã găm vốn, siết vốn trong một thời gian quá dài để trục lợi, khiến cho cơ thể kinh tế lún sâu vào tình trạng bệnh tật đến mức không thể hồi phục được.
Đó cũng là bối cảnh thê thảm mà giới ngân hàng đã bắt gần như toàn bộ nền kinh tế, các doanh nghiệp và cả người dân làm con tin của mình; nhưng từ năm 2012, ngân hàng lại trở thành con tin của chính họ.
Từ năm 2011, bắt đầu dấy lên những tiếng nói phản biện về thực trạng kinh tế. Người ta nói về thái độ quay quắt trong hành động “hút máu” của ngân hàng, về cái chết của các doanh nghiệp bất động sản, về quan hệ nhân quả về rủi ro không tránh khỏi giữa các ngân hàng chủ nợ với các đại gia bất động sản con nợ… Chỉ có điều, những tiếng nói thưa thớt ấy đã chìm vào cõi âm u. Ngược lại, tiếng nói của giới quan chức chính phủ và tuyên giáo mới thực sự ầm ĩ.
Tự do ngôn luận và tự do báo chí trong kinh tế đã không được tôn trọng dù chỉ ở mức độ phản biện tối thiểu. Nhiều bài viết phản biện về thực trạng kinh tế và nguyên nhân sâu xa từ phía các nhóm lợi ích ngân hàng, bất động sản và vàng khiến nền kinh tế trở nên thê thiết như vậy đã bị Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo gỡ bỏ.
RFI : Bức tranh mà anh vừa vẽ ra khá là u ám. Như vậy góc nhìn riêng của anh về quan niệm nền kinh tế đã thoát đáy như thế nào ?
Rất tiếc là tôi không thể đồng cảm với giới quan chức chính phủ rằng tình trạng nền kinh tế đang có “có triển vọng” như hiện thời. Cho tới nay, tồn kho bất động sản – là lĩnh vực chiếm tồn kho lớn nhất và tích lũy nợ xấu nhiều nhất ở Việt Nam – vẫn chưa hề được xử lý. Vẫn còn hàng trăm ngàn căn hộ cao cấp ở Hà Nội và Sài Gòn đang nằm bất động mà không có người mua. Từ đầu năm 2013 đến nay, bất chấp rất nhiều chiến dịch khuyến mãi, chiêu dụ của các chủ đầu tư địa ốc, thị trường bất động sản vẫn một mực không thay đổi thế bất tuân của nó. Mà không giải quyết được nợ xấu bất động sản thì không thể giải quyết được nợ xấu ngân hàng, vì nợ xấu bất động sản chiếm đến 70-80% trong tổng nợ xấu.
Công ty quản lý tài sản quốc gia, gọi tắt là VAMC, ra đời cũng hầu như chưa giải quyết được vấn đề gì. Thời gian gần đây, một chiến dịch PR khác đã được tung ra trên báo chí nhà nước khi cho rằng các nhà đầu tư “cá mập” của nước ngoài như Blackstone Group, Deutsche Bank Capital “xếp hàng” để mua nợ xấu của Việt Nam. VAMC cũng đang tiến hành mua nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần. Thế nhưng thực tế thì thế nào?
Thực tế là tuy có một số tập đoàn tài chính nước ngoài quan tâm đến chuyện mua nợ xấu của Việt Nam, song những điều kiện về mua bán của họ là rất ngặt nghèo, và tất nhiên là họ quan tâm đặc biệt đến việc mua nợ xấu rồi nhưng làm sao để bán lại cho người khác, trong khi tình hình kinh tế Việt Nam còn khá bi đát và chưa có gì cho thấy sẽ đỡ bi đát trong những năm tới.
Và đó cũng là vấn đề của VAMC và Ngân hàng nhà nước hiện nay. Hiện nay, VAMC mua nợ xấu của các ngân hàng không phải bằng tiền, mà bằng một loại trái phiếu đặc biệt do công ty này “phát minh” ra, theo cách đổi giấy lấy tài sản. Thực tế là sau nhiều cuộc bàn thảo gay gắt, VAMC chỉ được ấn định số vốn điều lệ có 500 tỉ đồng, trong khi nhiệm vụ của nó là phải thanh toán món nợ tại các ngân hàng gấp ít nhất 100 lần như thế – 50.000 tỉ đồng.
Việc VAMC không có tiền mà phải dùng trái phiếu để mua nợ ngân hàng đã cung cấp thêm một bằng chứng rất thật nữa về hiện thực ngân khố quốc gia đang bị cạn kiệt tài chính. Không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian gần đây, báo chí trong nước bắt đầu công khai về khả năng quỹ hưu trí có thể bị vỡ ngay sau năm 2020, cũng như một đề xuất của Bộ Tài chính về việc giảm 100.000 đồng/tháng mức lương cơ bản của công chức nhà nước. Những thông tin khác cũng cho thấy một cơ thể tài chính hoàn toàn không lành mạnh, và Chính phủ đã phải đề xuất Quốc hội nâng mức bội chi ngân sách từ 4,8% GDP vào năm 2012 lên 5,3% GDP vào năm 2013.
Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp phải giải thể, phá sản và ngưng hoạt động vẫn chưa có chiều hướng giảm. Nếu vào đầu năm 2013, lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải công bố con số phá sản và ngưng hoạt động này là 100.000 doanh nghiệp, thì cho đến gần đây một số thông tin vẫn cho thấy tình hình hầu như chưa được cải thiện. Ở một số địa phương, số doanh nghiệp mới được thành lập chỉ chiếm 10-20% số doanh nghiệp “biến mất”.
RFI : Trước tình hình như vậy, theo anh đã có dấu hiệu nguy hiểm nào từ phía các ngân hàng Việt Nam?
Ngân hàng là cái rốn của vùng lũ, và đã bắt đầu có những dấu hiệu nguy hiểm. Từ đầu năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) đã trở thành quán quân về nợ xấu và là ngân hàng chứa chấp số phạm nhân đông nhất. Một con số mới được công bố, trong khi bị giấu kín vào những năm trước, cho thấy nợ xấu tại ngân hàng này đã lên tới 33.500 tỉ đồng, trong khi vốn điều lệ của Agribank chưa đến 30.000 tỉ đồng. Cùng lúc, nhiều cán bộ lãnh đạo của ngân hàng này dính líu vào các vụ tài chính mờ ám và đã bị cảnh sát bắt giam.
Cho dù được xem là ngân hàng chiếm giải quán quân về khả năng huy động vốn trong dân và doanh nghiệp, song dư luận đang tự hỏi liệu Agribank có thể trở thành ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam phá sản – hiện tượng đã từng xảy ra với ngân hàng Lehman Brothes ở Mỹ vào cuối năm 2007 mà đã mở đầu cho một cuộc khủng hoảng ngân hàng và kéo theo đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện.
Với ít nhất những dấu hiệu như thế, làm thế nào để nền kinh tế có thể hồi phục, và hơn nữa là hồi phục nhanh chóng? Nếu vấn đề nợ xấu chỉ có thể được giải quyết sớm nhất vào năm 2015 như dự báo của một số chuyên gia, thì tất nhiên nền kinh tế cũng chỉ có thể bắt đầu đi lên từ mốc thời điểm năm đó chứ không thể sớm hơn. Mà đó là trường hợp lạc quan. Còn với kịch bản bi quan hơn, nếu phải mất 5-7 năm nữa vấn đề nợ xấu mới được giải quyết, khó ai có thể hình dung từ đây đến đó nền kinh tế và xã hội Việt Nam sẽ lặn ngụp thế nào trong khi chính quyền và các nhóm lợi ích vẫn tiếp tục “đánh bùn sang ao”.

RFI 
: Nhưng như vậy thì tại sao các tổ chức tài chính thế giới như IMF, ADB và WB lại cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi?
Đó vẫn là điều ngạc nhiên với khá nhiều người, trong đó có tôi. Ngay từ năm 2012, khi đồ thị kinh tế Việt Nam còn lao dốc với góc vát lớn, thỉnh thoảng lại xuất hiện một đánh giá kèm dự báo của ADB và IMF cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang có khả năng hồi phục. Gần đây, ý kiến lạc quan này lại có vẻ được lặp lại cứ sau mỗi quý. Phải chăng các tổ chức tài chính lớn nhất thế giới này đang làm công tác “ngoại giao nhân dân” với nhà nước Việt Nam? Hay họ thật sự cần đến Việt Nam về những chủ đề nào đó mà bắt buộc họ phải xây dựng những đánh giá tô hồng?
Tôi không cho rằng ADB, IMF và WB ngây thơ và non kém kinh nghiệm đến mức họ không biết thực trạng kinh tế Việt Nam ra sao, khi giới truyền thông quốc tế như AP, Bloomberg, Wall Street Journal, Strait Times… lại tỏ ra khá am tường về những khó khăn quá lớn mà giới điều hành kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt.
Vậy còn lại là cái gì? Phải chăng đó là những món cho vay đã có và sẽ có từ các tổ chức tài chính quốc tế, và buộc họ phải làm một điều gì đó để nhà nước Việt Nam cảm thấy can đảm hơn trong việc ký kết hợp đồng vay tín dụng?
Những khoản vay vẫn liên tục tiếp diễn. Trong đó, vay cho hạ tầng cơ sở giao thông chiếm một phần lớn. Vào những năm trước, Bộ giao thông vận tải Việt Nam đã trở thành điểm nóng của dư luận trong và cả ngoài nước khi đề xuất dự án làm đường sắt cao tốc Bắc Nam, chiếm một lượng vốn khổng lồ bằng vài ba chục phần trăm GDP quốc gia. Chỉ sau khi bị báo chí và dư luận phản ứng quyết liệt về ý đồ vay mượn nhằm đổ nợ cho thế hệ tương lai, dự án này mới bị ngưng lại. Tuy nhiên, nó vẫn biến thái sang một dự án đường sắt cao tốc khác với quy mô nhỏ hơn.
Mới đây, dư luận trong nước lại kinh ngạc khi phát hiện một đề xuất mới của Bộ Giao thông Vận tải về việc vay mượn quốc tế đến 8 tỉ USD để xây dựng sân bay Long Thành ở tỉnh Đồng Nai. Vậy trong hoàn cảnh khốn khó của nền kinh tế như hiện thời, làm sao lại có thể cứ phóng ra việc tiếp tục trút nợ lên đầu con cháu bằng những dự án trời ơi như thế?
Người ta cũng còn nhớ vào đầu năm 2012, một dự án kinh hoàng khác mà Bộ Giao thông Vận tải đưa ra là dùng đến hàng chục ngàn tỉ đồng từ ngân sách để xây dựng mới trụ sở của bộ này. Tất nhiên số tiền đó, tuy được coi là ngân sách, nhưng nguồn gốc lại là tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn từ nước ngoài. Nếu những dự án “đẩy nợ cho tương lai” như thế được thực hiện, tất nhiên đó cũng là quyền lợi lớn nhất của những chủ cho vay.
Gần đây, báo chí trong nước phải đặt nghi vấn về việc báo cáo của những tổ chức tư vấn bất động sản quốc tế như Savills Vietnam là thiếu độ xác thực, tô hồng thị trường, và liệu có mối quan hệ “đi đêm” giữa Savills với giới chủ đầu tư để đánh bóng, gây cảm giác cầu ảo đối với người dân và giới đầu tư nhỏ lẻ cho một thị trường bất động sản đang quá ảo não…
Trong mối quan hệ với một nền kinh tế quá thiếu minh bạch như Việt Nam, không thể loại trừ việc những tổ chức tài chính quốc tế như ADB hay IMF cũng gần tương tự trường hợp Savills Vietnam, tức họ cũng có quyền lợi; và từ quyền lợi đó, họ cũng có thể dùng truyền thông và kỹ thuật PR để tô vẽ một cái gì đó khác, thậm chí khác hẳn với sự thật.
Thử nghĩ, nếu những tổ chức tài chính quốc tế được quyền điều hành đất nước này, có nghĩa vụ giải thích với dân chúng về những món nợ hiện tại và làm sao để thanh toán nợ nần trong tương lai, chắc chắn thái độ và cách hành xử của họ sẽ khác hẳn. Khi đó, thay vì vay mượn, họ sẽ làm mọi cách để chắt chiu từng đồng vốn cuối cùng.

RFI
 : Theo anh thì tại sao giới chính khách điều hành lại cần đến việc tuyên truyền về triển vọng “phục hồi ảo” của nền kinh tế?
Những người làm chính trị luôn thấm nhuần quy luật “vật chất quyết định ý thức”. Không thể có một nền chính trị được coi là “ổn định” nếu kinh tế không “bền vững”. Huống chi là kinh tế đang trên đà sup sụp mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của cả một hệ thống chính trị – như điều đã từng xảy ra không biết bao nhiêu lần ở rất nhiều quốc gia khác.
Chính vì thế, họ phải làm mọi cách để kinh tế Việt Nam, dù đã trải qua suy thoái do chính sách và năng lực điều hành kinh tế kém cỏi và quá thiên về quyền lợi của các nhóm lợi ích, vẫn tiếp tục “phát triển”. Những con số có nhiều dấu hiệu được biến cải như GDP, chỉ số tăng trưởng công nghiệp, tỉ lệ nợ xấu, tỉ lệ thất nghiệp… được nêu ra một cách lạc quan và được lặp đi lặp lại để người dân cần phải tin rằng kinh tế chưa có gì là nguy biến.
Ngay vào năm 2013, khi đã xuất hiện hàng trăm ngàn doanh nghiệp phải giải thể và phá sản, hệ thống tuyên truyền một chiều vẫn cố gắng phát huy não bộ giáo điều và giả dối của nó. Nhưng đến lúc này, có lẽ điều mà giới chính khách thấm nhuần hơn cả là nguy cơ sụp đổ kinh tế rất có thể xảy ra, và hoàn toàn có khả năng diễn ra nếu như nền kinh tế không có được những nguồn hô hấp mới. Hô hấp này lại được hiểu là những nguồn tài chính mới. Tài chính trong nước thì quá khó, bởi tâm lý người dân trong nạn suy thoái luôn là việc găm tiền, bán nhiều mua ít. Còn các nhóm lợi ích, sau khi đã ních chặt túi, chỉ còn tìm cách làm sao tuồn tiền vàng ra nước ngoài và bảo vệ những tài sản còn lại ở trong nước khỏi bị “thất thoát”, chứ không còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện tái đầu tư hoặc cho nhà nước vay mượn.
Vậy chỉ còn lại nguồn tài chính từ quốc tế. Mà muốn có được nguồn tài chính này, nhà nước Việt Nam lại vẫn phải chứng minh làm sao cho người ngoài thấy nền kinh tế tuy có nhiều khó khăn, nhưng vẫn có khả năng phục hồi, phục hồi để lôi kéo đầu tư nước ngoài và những khoản ODA không hoàn lại hoặc lãi suất ưu đãi, kể cả “giữ vững nhịp độ phát triển” và sẵn sàng “nâng lên một tầm cao mới” để có đủ tiêu chuẩn được tham gia vào hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương.
Tuy nhiên tục ngữ người Việt có câu “Có thực mới vực được đạo”. Một nền kinh tế dân sinh bị mối ăn gần hết thì làm sao có thể khiến “dân tin, dân yêu”? Đây đã là lúc không thể thay một giả dối này bằng một dối trá khác, không thể biến đạo lý thành một thứ hàng hóa “thuận mua vừa bán”.
Tất cả đều thuộc về trách nhiệm của một nhóm thiểu số điều hành đất nước vào chính ngày hôm nay.

RFI
 : Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã vui lòng dành thì giờ tham gia tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự của RFI Việt ngữ.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013



Dễ là khi bạn có một chỗ trong sổ địa chỉ của một người, nhưng khó là khi bạn tìm được một chỗ trong trái tim của người đó.

Dễ là khi đánh giá lỗi lầm của người khác, nhưng khó là khi nhận ra sai lầm của chính mình.

Dễ là khi nói mà không suy nghĩ, nhưng khó là khi biết kiểm soát những lời nói của mình.

Dễ là khi làm tổn thương một người mà bạn yêu thương, nhưng khó là khi hàn gắn vết thương đó.

Dễ là khi tha thứ cho người khác, nhưng khó là khi làm cho người khác tha thứ cho mình.

Dễ là khi đặt ra các nguyên tắc, nhưng khó là khi làm theo chúng.

Dễ là khi nằm mơ hàng đêm, nhưng khó là khi chiến đấu vì một ước mơ.

Dễ là khi thể hiện chiến thắng, nhưng khó là khi nhìn nhận một thất bại.

Dễ là khi vấp phải một hòn đá và ngã, nhưng khó là khi đứng dậy và đi tiếp.

Dễ là khi hứa một điều với ai đó, nhưng khó là khi hoàn thành lời hứa đó.

Dễ là khi chúng ta nói rằng chúng ta yêu thương, nhưng khó là khi làm cho người khác cảm thấy như thế hàng ngày.

Dễ là khi phê bình người khác, nhưng khó là khi cải thiện chính bản thân mình.

Dễ là khi để xảy ra sai lầm, nhưng khó là khi học từ những sai lầm đó.

Dễ là khi buồn bực vì một điều gì đó mất đi, nhưng khó là khi quan tâm đủ đến điều đó để đừng làm mất.

Dễ là khi nghĩ về một việc, nhưng khó là khi ngừng suy nghĩ và bắt đầu hành động.

Dễ là khi nghĩ xấu về người khác, nhưng khó là khi cho họ niềm tin.

Dễ là khi nhận, nhưng khó là khi cho.

Dễ là khi đọc những điều này, nhưng khó là khi bạn thực hiện nó.

Nếu cơ hội mãi không gõ cửa, bạn phải xem mình đã xây một cánh cửa chưa đã.


Cuối cùng : nói thì dễ, làm thì khó. - ndK-